New Page 1
 
New Page 1


Nghi Thức Hành Lễ Của Người Islam

 Cảm tạ

 

Mọi lời ca tụng đều dâng lên Allah – Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài, Đấng đã gi các vị Thiên Sứ để dìu dắt nhân loại. Cầu xin Thượng Đế ban Bình An và Phúc Lành cho vị Thiên Sứ cuối cùng, cho gia đình và các vị bạn đạo của Người.

 

Ban Tủ Sách Islam xin chân thành cảm tạ ông Haji Hassan Từ công Thu đã cho phép chúng tôi trích đoạn trong cuốn Cẩm Nang Hành Lễ, cảm tạ cô Fatihah Trần Thị Lệ Hà và Ayađ Vũ Bích Thủy đã miệt mài đính chính bản thảo, ông Haji Miêu Abbas đã đánh máy các phần Kinh Qur’an và phần Đu’a, ông Haji Qasim Tu đã góp phần kỹ thuật và các vị Imam đã đóng góp nhiều ý kiến xây dựng. Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn anh Ahmad Khê Văn Trầm đã chụp ảnh minh họa cho cuốn Hành Lễ này.

 

Chúng tôi cũng không quên cảm ơn Ban Tôn giáo Chính phủ đã giúp nhiều ý kiến xây dựng và đặc biệt đa tạ vị mạnh thường quân vô danh đã đóng góp phần tài chính trang trải trong việc in ấn.

 

Cuối cùng, chúng tôi xin đa tạ Thượng Đế - Đấng Vĩ Đại đã ban cho chúng tôi cơ hội để hoàn thành công trình này.

 

 

 

 

 

Bản quyền @2012 của Tủ Sách Islam

Xuất bản lần thứ nhất vào năm 2012

 

Mọi quyền lợi được bảo vệ. Không một phần nào của cuốn sách này được sao chép hay truyền phát ở bất kỳ hình thức nào hay bằng bất kỳ phương tiện nào, điện tử hay cơ học, kể cả photocopy, ghi âm hay bằng bất kỳ hệ thống lưu trữ và phục hồi thông tin nào mà không được phép bằng văn bản của Tủ Sách Islam.

 

 

 

 

 

 

Mục Lục

 

Nghi thức thanh tẩy

 

1.    Nước tinh khiết.......................................................................... 1

2.    Nghi thức thanh tẩy (Wuđu)......................................................... 2

3.    Thanh tẩy là điều kiện bắt buộc trước khi hành lễ........................... 10

4.    Hỏng thanh tẩy (Nawaaqidul - Wuđu).......................................... 11

5.    Vuốt lên tất khi thực hiện việc thanh tẩy (mashul khuffain).............. 12

6.    Thanh tẩy khô (Tayammum)....................................................... 13

7.    Tắm tẩy thể (Ghusl).................................................................. 19

 

 

Khái quát việc hành lễ

 

1.    Giờ giấc.................................................................................. 23

2.    Trang phục.............................................................................. 24

3.    Địa điểm................................................................................. 24

4.    Các loại hành lễ khác nhau......................................................... 25

5.    Lời gọi đến hành lễ (Adhan)....................................................... 26

6.    Cầu nguyện (Đu’a) sau lời gọi đến hành lễ.................................... 28

7.    Lời gọi đứng dậy dâng lễ (Iqaamah)............................................. 29

 

 

Nghi thức hành lễ

 

1.    Nghi thức hành lễ..................................................................... 31

2.    Đoạn kinh để đọc sau khi kết thúc lễ nguyện................................. 51

3.    Các điều làm hỏng cuộc hành lễ.................................................. 54

4.    Phủ phục khi bị sao lãng trong lúc hành lễ.................................... 54

5.    Lễ bù (Qadaa-us Salaat)............................................................ 55

 

 

Hành lễ vào các dịp đặc biệt

 

1.    Hành lễ ngày thứ sáu................................................................. 57

2.    Lễ Tarawih............................................................................. 58

3.    Lễ Witr................................................................................... 58

4.    Hai ngày đại lễ (Salaat-al-Eidain)................................................ 61

5.    Lễ an táng (Salatul-Janaazah)..................................................... 62

 

 

Phụ Lục

 

1.    Cầu nguyện (Đu’a).................................................................... 69

2.    Khi tiểu tiện và đại tiện............................................................. 77

3.    Phương pháp tẩy sạch (Istinja).................................................... 78

4.    Sunna về những việc nên làm tự nhiên của con người...................... 79

5.    Phủ phục đặc biệt (Sujuuđ-ut-Tilaawah)....................................... 81

6.    Những chương kinh Qur’an ngắn để hành lễ.................................. 83

 

 

---------- o0o ----------

 

 

Lời mở đầu

 

Tôn giáo nào cũng có những nét đặc thù riêng nhất là về vấn đề nội tâm và cách thờ phụng. Mỗi tôn giáo đều có cách thờ phụng riêng chẳng hạn như lối thiền định của Phật giáo hay kinh cầu của tín đồ Thiên Chúa  giáo.

 

Ngược lại, Islam có những lối thờ phụng đặc thù khác hẳn với tất cả. Nói chung, tất cả những điều chỉ dạy trong Islam nhấn mạnh sự hài hòa giữa vật chất và tâm linh, thể xác và linh hồn, cá nhân và xã hội cho nên khi đến với Thượng đế thì con người phải đến với tất cả mọi cơ năng mà Ngài đã ban cho, tổng thể và toàn diện.

 

Lấy hành lễ làm ví dụ. Hành lễ trong Islam là một định chế đặc thù. Nó đưa con người tiếp cận với Thượng Đế bằng cách phối hợp tâm niệm và các động tác cơ thể một cách nhịp nhàng với nhau. Sự phối hợp này cân nhắc sự hài hòa giữa đời vào đạo một cách thăng bằng không cho phép có sự tách rời giữa thể xác và linh hồn hay vật chất và tâm linh. Trong khía cạnh khác, khi người Muslim hành lễ tập thể thì các động tác đứng ngồi giữa cá nhân và mọi người xung quanh tạo nên sự liên đới giữa cá nhân và xã hội. Nhưng mục đích cuối cùng của việc hành lễ là đưa con người, một sinh linh bé nhỏ trong càn khôn của vũ trụ thuần phục Thượng Đế, đào tạo cho có sự khiêm nhường trước sự Uy Nghi Vĩ Đại của Đấng Tạo Hóa.

 

Chỉ một vài nét phác họa thôi người ta cũng đã thấy tại sao việc hành lễ trong Islam quan trọng đến mức Thiên Sứ đã tuyên bố: “Hành lễ phân biệt giữa người Muslim (Hồi Giáo) và người khác đạo”.

 

Đi sâu thêm thì có rất nhiều chi tiết nhưng nếu khác nhau thì chỉ là chi tiết nhỏ không ảnh hưởng đến những động tác và các câu kinh chính yếu trong việc hành lễ. Sở dĩ có sự khác nhau là vì sự khác biệt giữa các trường phái và người Muslim không đem sự khác biệt đó ra làm thành đề tài tranh chấp với nhau.

 

Bởi vậy, cuốn Nghi Thức Hành Lễ này đề cập đến một trong các nghi thức hành lễ của thế giới Hồi Giáo. Nó hội tụ những động tác và các câu kinh căn bản và thông dụng nhất.

 

Cuốn sách này là công trình đúc kết của nhiều cá nhân. Một vài câu nói không thể nào diễn tả hết nỗ lực và sự miệt mài của họ. Những người mà chúng tôi đã nêu tên trong phần cảm tạ và nhiều người khác đã hy sinh mà chỉ có Thượng Đế mới biết rõ công lao của họ. Xin Ngài mở rộng hồng ân ghi nhận lòng thành của tất cả. Ngài đã thiên khải tôn giáo và Ngài là Đấng đã bảo tồn tôn giáo. Chúng tôi hy vọng rằng công trình này sẽ được Ngài bảo tồn như Ngài đã bảo tồn tôn giáo bấy lâu nay.

 

Islam là an bình. Cầu mong cho thế giới bớt sự âu lo và mang sự an bình cho loài người.

 

Thay mặt Tủ Sách Islam

Habib – Từ Công Nhượng

Tháng 3, 2012 Tây Lịch

Tháng 4 năm 1433 Hồi Lịch

 

 

---------- o0o ----------

 

 

Từ hành lễ thông dụng

 

*                          Câu “salallahu ‘alayhi wa sallam” có nghĩa là : “xin Thượng Đế ban phúc lành và bình an cho Người”. Nội dung muốn nói đến Thiên Sứ Muhammađ.

 

Đu’a                      Cầu nguyện, thỉnh cầu

 

Đaruut                   Lời cầu phúc

 

Farđ                      Bắt buộc

 

Ghusl                     Tắm toàn thân hay còn gọi là tắm tẩy thể, là hình thức tẩy sạch toàn thân thể trước khi hành lễ.

 

Hađith                   Lời tường thuật về những hành động và lời nói của Thiên Sứ Muhammađ  nhằm giải thích phương cách thực hành đạo.

 

Halal                     Điều được phép làm

 

Haram                   Điều bị cấm

 

Hồi lịch/Hijr           Bao gồm 12 tháng tính theo âm lịch, được tính từ thời điểm Thiên Sứ bắt đầu khởi hành đi từ Mecca tới Yathrib (sau này có tên là thành phố Mêđina).

 

Islam                     Được hiểu là đạo Hồi. Theo tiếng Ả-rập, Islam có nghĩa là tuân phục, tin tưởng vào Thượng Đế. Islam là đạo được mặc khải cho Thiên Sứ Muhammađ - vị Thiên Sứ cuối cùng.

 

Janaazah               An táng cho người qua đời.

 

Ka’bah                  Ngôi đền nằm tại thánh địa Mecca, các tín đồ Muslim ở bất cứ nơi nào trên trái đất đều hướng về đền Ka’bah mỗi khi hành lễ.

 

Muslim                   Người theo đạo Islam (hay còn được hiểu là người Hồi Giáo). Theo tiếng Ả-rập, Muslim có nghĩa là người tuân phục và tin tưởng vào Thượng Đế.

 

Nafl                        Tự nguyện

 

Olloh/Allah            Thượng Đế

 

Rak’at                    Đơn vị hành lễ. Mỗi một đơn vị hành lễ gồm hai lần phủ phục (Sujuđ).

 

Ramađan               Tháng nhịn chay. Đây là tháng 9 theo Hồi lịch. Thiên Kinh Qu’ran đã được mặc khải lần đầu tiên vào tháng này.

 

Salatul-Janazah     Lễ an táng cho người qua đời.

 

Sujuuđ                   Phủ phục. Tư thế quỳ mọp, đầu chạm đất.

 

Sunnah                  Lời nói, việc làm, hành vi của Thiên Sứ. Sunnah được xem như là nguồn luật thứ hai của Islam để người đời thực hành. Ví dụ: dựa vào kinh Qu’ran, việc hành lễ là bắt buộc đối với người Muslim và nhờ có Sunnah, người Muslim biết nên phải hành lễ như thế nào cho đúng.

 

Takbir                    Nói “Ollohu Akbar” (Thượng Đế Vĩ Đại)

 

Tashahuđ               Lời chào tiếp diện. Đây là một trong những phần thực hiện khi hành lễ, Tashahuđ được đọc khi người Muslim ngồi quỳ, tư thế hướng về đền Ka’bah.

 

Tasliim                   Lời chào bình an. Người Muslim kết thúc việc hành lễ bằng cách quay mặt sang phía bên phải nói lời chào bình an, rồi quay mặt sang trái nói lời chào bình an.

 

Tawaf                     Đi vòng quanh đền Ka’bah.

 

Wuđu                     Thanh tẩy tức là nghi thức tẩy rửa một số bộ phận của cơ thể như: tay, mũi, miệng, mặt, tai, đầu, bàn chân để được trong sạch hóa trước khi hành lễ.

 

Zakaat                   Thuế an sinh. Đây là trụ cột thứ ba trong năm trụ cột của Islam. Nếu tổng tài sản của một người tính ra có trị giá hơn 85gr vàng trong một năm thì người đó phải xuất 2.5% trị giá để giúp đỡ những người Muslim nghèo.

 

Zakaat Al-Fitr        Của bố thí nhằm giúp đỡ những người Muslim nghèo, được đóng góp trước khi dâng lễ trong ngày lễ xả chay.

 

Zam-zam               Giếng nước nằm ở gần đền Ka’bah tại thánh địa Mecca

 

Zikr                        Tán dương Thượng Đế bằng cách đọc 33 lần câu Subhanolloh (Vinh quang thay Thượng Đế), 33 lần câu Alhamdulillah (Tạ ơn Thượng Đế), 33 lần câu Ollohu Akbar (Thượng Đế Vĩ Đại) và cuối cùng là đọc câu tuyên thệ chứng nhận của người Muslim. Tổng cộng tất cả những lần đọc là 100 lần.

 

 

---------- o0o ----------

 

 

 

Các lời tường thuật (Hađith) về lễ nguyện:

 

Lễ nguyện hay hành lễ là một nghi lễ thờ phụng bắt buộc của người Muslim, tín đồ Hồi Giáo (Islam). Thượng Đế của muôn loài phán trong Thiên Kinh Qur’an như sau:

 

“…Quả thật, lễ nguyện được truyền cho những người có đức tin vào những giờ giấc quy định.” (Chương 4: câu 103).

 

Lễ nguyện phân biệt một người Muslim với một người ngoại đạo như sau:

 

Jabir, đồng đạo của Thiên Sứ  đã tường thuật lời Thiên Sứ bảo: “Chính việc dâng lễ sẽ phân biệt một người Muslim với một người không Muslim”. (Hađith – Muslim)

 

Lễ nguyện phủi sạch tội lỗi của người dâng lễ. Abu Hurairah, đồng đạo của Thiên Sứ  tường thuật lời của Thiên Sứ như sau:

 

Các người nghĩ thế nào nếu một trong các người có một dòng sông chảy trước cửa nhà và y tắm rửa năm lần mỗi ngày, thân thể y có còn dính bụi nữa hay chăng? Họ thưa: “Chẳng còn bụi nào nữa cả.” Thiên Sứ  bảo tiếp: “Nó cũng giống như một người Muslim hành lễ năm lần mỗi ngày, theo đó Thượng Đế phủi sạch tội lỗi.” (Hađith – Muslim)

 

Lễ nguyện là một loại áo giáp bảo vệ người dâng lễ. Abu Đarda, đồng đạo của Thiên Sứ tường thuật lời Thiên Sứ  như sau:

 

Đừng tổ hợp cái gì với Thượng Đế dù các người có bị cắt xẻo từng miếng thịt và dù bị đốt cháy thì cũng đừng cố ý bỏ việc hành lễ. Nếu một người Muslim cố ý bỏ việc hành lễ thì sự che chở mà Thượng Đế bảo đảm cho họ sẽ bị lấy mất đi; và đừng uống rượu bởi vì nó là căn nguyên của tội lỗi.” (Hađith – Ibn Majah)

 

Lễ nguyện là một nguồn ánh sáng, một bằng chứng và là một phương tiện cứu rỗi vào ngày Phục Sinh. (Hađith – Ahmađ, Đarimi, Baihaqi trong Shu’ab al-Imaam do Abđullah bin ‘Amr b. Al-As tường thuật)

 

Lễ nguyện mỗi ngày năm lần, nhịn chay trọn tháng Ramadan, đóng thuế an sinh (Zakaat) từ tài sản của các người và vâng lời khi nhận lệnh (của giới chức có thẩm quyền) thì các người sẽ vào Thiên Đàng của Thượng Đế”. (Hađith – Ahmađ và Tirmizi do Abu Umama kể)

 

 

---------- o0o ----------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN MỘT

 

NGHI THỨC THANH TẨY

(Tahaarah)

 

1.       Nước tinh khiết

 

Thực hiện việc trong sạch hóa bằng cách dùng nước tinh khiết. Nước tinh khiết là nước sạch và được dùng để tẩy sạch vật bẩn khác. Nước bẩn không được phép dùng để tắm (ghusl) và cũng không được dùng để thực hiện thủ tục thanh tẩy (wuđu) khi hành lễ.

 

1.1.      Nước tinh khiết gồm:

a.     Nước mưa, nước đá, nước sông, nước tan từ tuyết. Thượng Đế phán: “...Và TA ban nước mưa tinh khiết từ trên trời xuống.” [Q 25: 48].

b.     Nước biển. Ông Abu Hurairah thuật lại như sau: “Thỉnh thoảng khi đi biển, chúng tôi vẫn thường mang theo người một chút nước. Nếu chúng tôi dùng nước này để thực hiện việc thanh tẩy thì chúng tôi có thể bị khát ở ngoài khơi. Vậy, chúng tôi có thể dùng nước biển để thực hiện việc thanh tẩy được không?” Thiên Sứ  đáp: “Nước biển rất tinh khiết nên dù sinh vật biển chết ở trong đó thì nó vẫn sạch và được phép dùng (halal).”

c.     Nước giếng và nước ở vòi phun nước. Ông Ali bin Abi Talib tường thuật rằng: “Có lần Thiên Sứ đòi một gầu nước giếng Zam-Zam mà Người dùng để uống và lấy nó làm nghi thức thanh tẩy.”

 

1.2.      Dấu hiệu của nước tinh khiết:

a.     Các loại nước vừa kể trên có thể không có màu sắc và mùi vị. Nếu chúng có màu sắc và mùi vị thì dù nước có trong đi chăng nữa thì cũng không thể dùng vào việc thanh tẩy được.

b.     Nước sau khi dùng để thanh tẩy mà vẫn sạch thì có thể được dùng lại.

c.     Khi nước bị thay đổi tự nhiên do kết quả của muối, bùn, cỏ và các vật tương tự từ những hồ nước thì nước đó được xem như tinh khiết và có thể dùng để tẩy rửa. Tuy nhiên, nếu có sự thay đổi do ô nhiễm hóa học thì nước đó không thể dùng để thanh tẩy.

d.     Nếu một chất bẩn rơi vào nước nhưng không thay đổi màu sắc và mùi vị thì nước đó có thể dùng để thanh tẩy.

 

2.       Nghi thức thanh tẩy (Wuđu)

 

Thanh tẩy là điều kiện tiên quyết trước khi hành lễ. Lễ nguyện sẽ mất hiệu lực nếu thiếu điều kiện này. Nó được minh chứng trong Thiên Kinh Qur’an như sau:

 

Hỡi những ai có niềm tin! Khi các người đứng dậy để dâng lễ, hãy rửa mặt và (hai) tay của các người đến khuỷu tay và lau vuốt đầu của các người với nước và rửa hai bàn chân đến tận mắt cá...” ” [Q 5:6]

Thiên Sứ  nói: “Thanh tẩy là chìa khóa chuẩn bị hành lễ và lễ nguyện là chìa khóa mở cửa vào Thiên Đàng”.

 

2.1.      Thủ tục thanh tẩy gồm những điều sau đây:

a.     Định tâm (Niyaat)

 

Định tâm là điều rất quan trọng trong cuộc sống người Muslim bởi vì mọi hành động đều bắt nguồn từ ý định. Người dâng lễ phải biết rõ mục đích của việc mình làm. Hình thức và nội dung của việc làm phải đi đôi với nhau nếu không thì việc mình làm sẽ trở thành vô nghĩa. Bởi vậy trước khi thực hiện thủ tục thanh tẩy thì định trong lòng ý nghĩ sau đây:

 

“Tôi định tâm thực hiện việc thanh tẩy để chuẩn bị hành lễ”.

 

b.     Rửa tay

 

Vừa đọc câu kinh “بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ   Bismillahir rohmaan ir-rohiim” (Nhân danh Thượng Đế, Đấng Rất Mực Độ Lượng, Đấng Rất Mực Khoan Dung) vừa đưa hai bàn tay chạm nước để làm thủ tục thanh tẩy. Rồi rửa hai bàn tay đến cổ tay ba lần cho sạch, tay phải trước, tay trái sau (Ảnh 1)

 

 

 

 

Ảnh 1:  Rửa tay

 

c.     Súc miệng

 

Dùng hai bàn tay bụm nước đưa vào miệng. Dùng ngón trỏ tay phải chà răng cho sạch (có thể dùng bàn chải đánh răng) súc miệng cho hết mùi hôi và nhổ nước bẩn ra ngoài. Động tác này gọi là Mađmađah (Ảnh 2).

 

 

 

Có thể dùng Miswak, một loại cây trong thiên nhiên có chất thuốc, chà răng đánh tan mùi hôi trong miệng hoặc dùng nước thuốc để súc  miệng cũng được.

 

 

 

 

Ảnh 2:  Súc miệng

 

d.     Xì mũi (rửa mũi)

 

Bụm nước đưa vào lỗ mũi, hít nhẹ đưa nước vào chút xíu, dùng ngón tay móc chất bẩn trong mũi và xì nó ra ngoài. Lặp đi lặp lại đôi ba lần cho sạch. Động tác này gọi là Istinshaaq (Ảnh 3).

 

 

Ảnh 3:  Xì mũi

 

e.     Rửa mặt

 

Bụm nước trong hai lòng bàn tay đưa lên rửa mặt từ trán xuống cằm và từ vành tai phải sang vành tai trái ba lần. Người nào có râu thì dùng tay ướt vuốt râu từ trên xuống sao cho nước thấm vào da (Ảnh 4).

 

 

Ảnh 4:  Rửa mặt

 

f.      Rửa hai cánh tay

 

Dùng bàn tay trái rửa cánh tay phải đến khuỷu tay (3 lần), xong dùng bàn tay phải rửa cánh tay trái đến khuỷu tay (3 lần). Rửa cánh tay phải trước, cánh tay trái sau cho hai cánh tay đều thấm nước. Nên nhớ mỗi lần làm như thế các ngón tay của hai bàn tay phải chụm vào nhau để chà vuốt cho sạch (Ảnh 5).

 

 

 

 

      Ảnh 5:  Rửa hai cánh tay

 

g.     Vuốt đầu

 

Vuốt đầu với hai bàn tay ướt từ trước ra sau (3 lần) sao cho da đầu thấm nước, hoặc vuốt tóc ở trước trán (3 lần) (Ảnh 6).

 

 

Ảnh 6:  Vuốt đầu

 

 

h.     Lau hai vành tai

 

Dùng ngón tay cái và ngón trỏ lau vuốt hai vành tai, 3 lần (Ảnh 7).

 

 

Ảnh 7:  Lau hai vành tai

 

i.      Rửa hai bàn chân

 

Rửa hai bàn chân từ mắt cá xuống lòng bàn chân: bàn chân phải trước và bàn chân trái sau, 3 lần (Ảnh 8).

 

 

 

 

Ảnh 8:  Rửa hai bàn chân

 

 

Sau khi rửa xong hai bàn chân, kết thúc nghi thức thanh tẩy bằng lời cầu nguyện sau đây:

 

 

أشْهَدُ أن لّآ إلهَ إِلّا اللهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيْكَ لَهُ

َو أشْهَدُ أنَّ مُحَمَّداً عَبْدُهُ وَرَسُولُهُ.

الَّلهُمَّ  اجْعَلْنِيْ مِنَ التَّوابِين وَاجْعَلْنِيْ مِنَ المُتَطَهِّرِين

 

 

(Phiên âm: Ash-hađu an laa ilaaha il-Olloh (u) wahđahu laa shariika lah(u) wa ashhađu anna Muhammađan abđuhu wa rosuuluh(u). Ollahummaj-‘alnii minat-tawwabiina waj’- alni minal mutatahhiriin).

 

Dịch:

 

Bề Tôi chứng thực không có thượng đế nào ngoài Allah. Duy nhất chỉ có Ngài không có ai hợp tác và bề tôi chứng thực Muhammađ là người bề tôi và là Thiên Sứ của Ngài. Lạy Thượng Đế! Xin Ngài xếp bề tôi cùng với những người hối cải và xếp bề tôi cùng với những người trong sạch.

 

3.       Thanh tẩy là điều kiện bắt buộc trước khi hành lễ

 

Thanh tẩy là điều kiện bắt buộc nếu có ý định làm những việc sau đây:

3.1.      Hành lễ

 

Dù đó là hành lễ bắt buộc (Farđ) năm lần một ngày, hành lễ phụ trội (Sunnah), hành lễ tự nguyện (Nafl) hay là hành lễ an táng người quá vãng (Janaazah) thì đều phải có sự thanh tẩy trước.

 

Thiên Sứ  bảo: Thượng Đế sẽ không chấp nhận bất cứ việc hành lễ nào nếu không có sự thanh tẩy”.

 

3.2.      Đi vòng quanh đền Ka’bah (Tawaf)

3.3.      Sờ, cầm Thiên Kinh Qu’ran

 

Thiên Kinh Qu’ran chỉ được phép sờ, nắm khi người đó đã thực hiện việc thanh tẩy. Thiên Sứ  đã bảo:

 

“Thiên Kinh Qu’ran chỉ có thể được sờ, cầm bởi những người ở trong tình trạng sạch sẽ”. (Hađith – Al-Nisaii)

 

Ngoài ra, việc thanh tẩy được khuyến cáo thực hiện trước khi làm một việc tốt chẳng hạn lễ cầu xin ân huệ của Thượng Đế, hoặc tụng niệm Thượng Đế (Zikr), hoặc trước khi đi ngủ...

 

4.       Hỏng thanh tẩy (Nawaaqidul - Wuđu)

4.1.      Những điều làm hỏng việc thanh tẩy:

a.     Chất bẩn xuất ra từ thân thể của mình dù ít hay nhiều, chẳng hạn như nước tiểu, phân, xuất tinh hay trung tiện (đánh rắm, xuất hơi).

b.     Đàn bà có kinh nguyệt hay có máu sinh.

c.     Ngủ say hay bất tỉnh vì lý do nào đó.

d.     Tay trực tiếp chạm phải bộ phận sinh dục.

e.     Trong trường hợp giao hợp (ăn nằm) với nhau, xuất tinh vì lý do kích thích tình dục hay mộng tinh, có kinh kỳ và máu sinh thì cần phải tắm toàn thân để tẩy sạch.

f.      Trong trường hợp trung tiện, ngủ say hay chạm trực tiếp phải bộ phận sinh dục thì chỉ cần thực hiện việc thanh tẩy lại là đủ.

g.     Trong trường hợp tiểu tiện và đại tiện (đi cầu) thì phải dùng nước để tẩy uế, sau đó thực hiện việc thanh tẩy là đủ.

 

4.2.      Không làm hỏng việc thanh tẩy

a.     Vô tình chạm vào da của người khác phái thì không làm hỏng việc thanh tẩy. Vợ của Thiên Sứ , bà A’aishah tường thuật như sau:

 

Tôi hay ngủ phía trước nơi mà Thiên Sứ   thường hành lễ, hai bàn chân của tôi duỗi thẳng về phía Người. Khi Người phủ phục (sujuuđ) thì chạm phải bàn chân tôi và tôi co chân lại.” ( Hađith – Muslim).

 

b.     Chảy máu bất cứ nơi nào của cơ thể ngoài hai chỗ hở tự nhiên của nó (âm đạo và hậu môn) thì không làm hỏng việc thanh tẩy. Trong một Hađith do ông Al-Hasan kể, Thiên Sứ  có bảo:

 

 Những người Muslim không ngưng dâng lễ nguyện khi có vết thương”. (Bukhari)

 

c.     Nếu có người nghi ngờ việc thanh tẩy của mình còn hiệu lực hay đã bị hỏng thì sự nghi ngờ đó không làm hỏng việc thanh tẩy của họ trừ khi họ biết chắc chắn là đã bị hỏng. Ông Abu Hurairah kể lại lời của Thiên Sứ  như sau:

 

“Nếu ai trong các người cảm thấy (sôi bụng) và không biết chắc đã xuất hơi ra ngoài hay chưa thì họ không nên bước ra ngoài thánh đường cho đến khi nào họ nghe thấy tiếng hoặc ngửi thấy mùi thối”. (Hađith –Muslim / Abu Đawud)

 

d.     Thanh tẩy không có hiệu lực khi làn da người thanh tẩy bị bao phủ bởi cái gì đó không cho nó thấm nước chẳng hạn như son phấn hay mỹ phẩm.

e.     Phụ nữ ra huyết liên tục hoặc người nào đi tiểu không tự chủ hoặc đánh trung tiện thì phải thực hiện nghi thức thanh tẩy lần nữa trước khi hành lễ.

5.       Vuốt lên tất khi thực hiện việc thanh tẩy (mashul khuffain)

 

Người Muslim được phép vuốt lên đôi tất mang khi thực hiện việc thanh tẩy nếu bàn chân đã được rửa qua một lần khi thực hiện việc thanh tẩy lần trước. Việc vuốt lên tất khi thực hiện việc thanh tẩy này kéo dài một ngày đêm nếu ở nhà và ba (3) ngày đêm nếu đi xa.

Humaam Nakha’i   tường thuật: Ông Jariir bin ‘Abđullah CREATOR: gd-jpeg v1.0 (using IJG JPEG v62), default quality
 tiểu tiện rồi sau đó thực hiện việc thanh tẩy và vuốt lên tất bằng da của ông ta. Khi được hỏi: “Đồng đạo làm thế sau khi đi tiểu ư?” Jariir trả lời: “Vâng, tôi thấy Thiên Sứ  đi tiểu và sau đó thực hiện việc thanh tẩy và lau vuốt lên tất. (Hađith – Muslim/ Al-Bukhari)

 

Ban đầu, việc lau chùi này chỉ được cho phép đối với tất da. Sự đối chiếu việc lau vuốt này được nới rộng cho cả tất len, tất nylon, vải và lụa… Tuy nhiên tất không được quá mỏng để nước có thể thấm da. Thủ tục vuốt tất này chỉ được thực hiện sau khi đã hoàn thành tất cả các động tác khác của việc thanh tẩy. Nói cách khác, không cần cởi tất mà chỉ dùng tay ướt vuốt một lần từ đầu ngón chân đến gót chân và mắt cá là đủ (không được vuốt ở dưới bàn chân).

 

 

Thực hiện nghi thức thanh tẩy hoặc tắm toàn thân thì phải dùng nước để tẩy sạch. Tuy nhiên, nếu cơ thể có thương tích chẳng hạn như bị bỏng lửa hay bị bỏng nước sôi... dùng nước để tẩy sạch không thích hợp thì lúc đó cho phép lau vuốt. Trong trường hợp nơi vết thương có dán băng cấp cứu hoặc được bao bằng một lớp thạch cao thì được phép dùng tay ướt vuốt lên trên đó nhưng các phần còn lại phải dùng nước để tẩy sạch. Nếu phương pháp này còn gặp trở ngại thì dùng phương pháp tẩy rửa khô.

 

 

6.       Thanh tẩy khô (Tayammum)

 

Trong một vài trường hợp như không có nước, thiếu nước hoặc nước chỉ đủ dùng để uống hoặc nếu dùng nước vào việc thanh tẩy hay tắm toàn thân sẽ gây bệnh thì được cho phép áp dụng việc thanh tẩy khô.

6.1.      Thủ tục thanh tẩy khô gồm có:

a.     Định tâm thanh tẩy khô.  Người thực hiện tự bảo “Tôi định tâm thực hiện việc thanh tẩy khô”.

b.     Đọc “Bismillah hir Rahmaan nir Rahiim” (Nhân danh Thượng Đế, Đấng Rất Mực Độ Lượng, Đấng Rất Mực Khoan Dung).

c.     Úp hai lòng bàn tay lên cát, đất sạch, tường, đá, thạch cao... Rũ bàn tay cho đất thừa rơi xuống, xong đưa lên lau mặt đều khắp từ trán xuống cằm một lần. Xong úp hai bàn tay lên cát, đất như lần trước. Rồi dùng lòng bàn tay trái dính đất lau vuốt đều cánh tay phải đến khuỷu tay một lần, xong dùng lòng bàn tay phải lau vuốt đều cánh tay trái đến khuỷu tay một lần.

 

 

       Ảnh 9:  Úp lòng bàn tay lên tường (cát...)

 

 

 

Ảnh 10:  Vuốt mặt một lần

 

 

 

Ảnh 11:  Úp lòng bàn tay lên tường (cát...) lần thứ hai

 

 

 

 

Ảnh 12a:  Vuốt cánh tay phải

 

 

 

Ảnh 12b:  Vuốt cánh tay phải

 

 

 

 

 

Ảnh 13a:  Vuốt cánh tay trái

 

 

 

Ảnh 13b:  Vuốt cánh tay trái

 

 

d.     Chấm dứt thanh tẩy khô bằng cách đọc câu tuyên thệ của người Muslim:

 

أشْهَدُ أن لّآ إلهَ إِلّا اللهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيْكَ لَهُ

َو أشْهَدُ أنَّ مُحَمَّداً عَبْدُهُ وَرَسُولُهُ.

 

Ash-hađu an laa ilaaha il-Olloh (u) wahđahu laa shariika lah(u) wa ashhađu anna Muhammađan abđuhu wa rosuuluh(u)

 

 “Bề tôi xác nhận rằng không có thượng đế nào ngoài Allah cả, duy nhất chỉ có Ngài, không có ai hợp tác và bề tôi xác nhận rằng Muhammađ là bề tôi và là Thiên Sứ của Ngài.”

 

 

 

Do việc tẩy rửa khô hoàn toàn thay thế thanh tẩy và tắm toàn thân cho nên có thể áp dụng nó cho các trường hợp tẩy sạch khác để hành lễ, cầm Thiên Kinh Qur’an ...

 

 

 

6.2.      Điều kiện vô hiệu hóa việc thanh tẩy khô

 

Các điều làm hỏng việc thanh tẩy cũng được áp dụng cho thanh tẩy khô bởi vì nó chỉ được dùng để thay thế cho thanh tẩy. Nếu tìm ra nước trước khi hành lễ, việc thanh tẩy khô kể như vô hiệu. Tuy nhiên, nếu tìm thấy nước sau khi hành lễ thì việc thanh tẩy khô vẫn còn hiệu lực.

 

7.       Tắm tẩy thể (Ghusl)

 

Ghusl nói chung là tắm toàn thân. Nó khác với tắm thường ở hai điểm: định tâmcách thức tắm.

 

Trước hết tắm tẩy thể mang tính bắt buộc nếu một người nào đó lâm tình trạng dơ bẩn qua các trường hợp sau đây:

 

a.     Xuất tinh vì lý do kích thích tình dục hoặc mộng tinh.

b.     Sau khi giao hợp.

c.     Sau khi chấm dứt kinh kỳ hoặc dứt huyết hậu sản.

d.     Khi một người Muslim qua đời.

e.     Khi một người sắp tuyên thệ nhập đạo.

 

 

Trường hợp (d) và (e) được khuyến khích vì có nhiều phước.

 

 

7.1.      Tắm tẩy thể trở thành Sunnah vào các trường hợp sau đây:

a.     Ngày thứ sáu

 

Ông Abu-Saidul Khudri tường thuật lời của Thiên Sứ  như sau: “Mỗi người Muslim đi dự lễ ngày thứ sáu nên tắm toàn thân, đánh răng và xức nước hoa nếu có thể”. (Hađith – Al-Bukhari)

 

b.     Bắt đầu thực hiện hành hương bắt buộc (Hajj) hoặc hành hương tự nguyện (Umroh).

 

Ông Zaid bin Thaabit kể lại việc Thiên Sứ  cởi áo để tắm toàn thân khi Người có ý định thực hiện hành hương bắt buộc và hành hương tự nguyện. (Hađith – Tirmizi)

 

c.     Trước khi đi vào Mecca hay đứng tại đồi Arafat (khi thực hiện hành hương)

 

Ibn ‘Umar tường thuật lời của Thiên Sứ  bảo “Tắm toàn thân trước khi đi vào Mecca và trước khi đứng tại đồi Arafat.”

 

d.     Vào ngày đại lễ kết thúc tháng nhịn chay Ramađan (Eid-Al-Fitr) và ngày Lễ Hiến Tế (Eid-Al-Adha).

e.     Sau khi tắm toàn thân cho người quá vãng.

 

7.2.      Nghi thức tắm tẩy thể (Ghusl)

 

Nghi thức tắm tẩy thể gồm có các điểm sau đây:

a.     Định tâm tắm tẩy thể.

b.     Người tắm định tâm nói thầm trong bụng: “Tôi định tâm tắm tẩy thể để tẩy sạch dơ bẩn ra khỏi mình tôi.”

c.     Đọc “Bismillah hir Rohmaan nir Rohiim (Nhân danh Thượng Đế, Đấng Rất Mực Độ Lượng, Đấng Rất Mực Khoan Dung). Rửa sạch hai bàn tay (3 lần).

d.     Rửa sạch những bộ phận kín có dính chất bẩn với nước và xà phòng.

e.     Thực hiện việc thanh tẩy (wuđu), chừa hai bàn chân để chờ tắm toàn thân xong rồi rửa.

f.      Gội đầu. Xối nước lên đầu ba lần, làm thế nào cho nước thấm da đầu.

g.     Xối nước lên toàn thân, bên phải trước, bên trái sau.

 

 

 

Thủ tục tắm tẩy thể dành cho nữ cũng tương tự như cho nam. Ummu Salmah tường thuật việc một nữ Muslim hỏi Thiên Sứ  như sau: “Thưa Thiên Sứ! Tôi búi tóc, vậy khi tôi ở trong tình trạng ô uế, tôi có phải xõa tóc khi tắm toàn thân không?” Thiên Sứ  đáp: “Chỉ cần xối nước lên đầu 3 lần sau đó xối nước lên toàn thân mình là đủ, và ngươi sẽ được sạch”.

 

 

 

 

 

Ngôi Thánh Đường Ubudiah ở bang Perak, Malaysia

 

 

 

---------- o0o ----------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN HAI

 

KHÁI QUÁT VỀ VIỆC HÀNH LỄ

 

 

Trong chương này, chúng tôi xin trình bày một cách khái quát việc hành lễ.

 

Như chúng ta đã biết, hành lễ đòi hỏi những điều kiện bắt buộc mà người dâng lễ phải thi hành và không thể thiếu sót được. Điều kiện bắt buộc tiên quyết là nghi thức thanh tẩy mà chúng ta vừa đề cập ở chương trước. Tiếp theo là giờ giấc, trang phục và địa điểm hành lễ.

 

1.       Giờ giấc

 

Mỗi một lễ nguyện đều phải được thực hiện đúng vào giờ giấc quy định hoặc trong thời gian thích hợp của nó. Không lễ nguyện nào được thực hiện trước giờ giấc quy định [Qur’an 4:103]. Nói tóm lại, có năm (5) lễ nguyện bắt buộc trong một ngày đêm. Đó là:

 

FAJR (sáng)

Lễ buổi sáng trước hừng đông

ZUHR (trưa)

Lễ trưa lúc mặt trời bắt đầu chếch bóng

‘ASAR (chiều)

Lễ chiều

MAGRIB (tối)

Lễ tối lúc mặt trời lặn.

‘ISHA (đêm)

Lễ buổi đêm khi không còn một tia sáng mặt trời.

2.   Trang phục

 

Vì hành lễ là cuộc tiếp diện với Thượng Đế cho nên người dâng lễ phải đến với lòng thành và trang phục phải xứng đáng với sự vinh quang của Ngài.

 

Trang phục của phụ nữ thế nào cũng được nhưng bắt buộc phải che phủ toàn thân từ đầu xuống chân chỉ để lộ bộ mặt và hai bàn tay. Trang phục hành lễ phải hoàn toàn sạch sẽ, không dính một tí chất bẩn nào. Suốt thời gian có kinh kỳ phụ nữ được miễn hành lễ.

 

Riêng về đàn ông thì trang phục phải che kín ít nhất từ trên rốn xuống dưới đầu gối, dĩ nhiên là trang phục phải sạch sẽ. Nếu đã đạt được mức tối thiểu đó rồi thì ăn mặc ra sao cũng được miễn là trang nhã theo cuộc sống, văn hóa và môi trường của từng địa phương.

 

3.       Địa điểm

 

Ở bất cứ nơi nào, người Muslim đều có thể hướng về Thượng Đế để hành lễ với lòng thành kính. Thiên Sứ  có nói: “Toàn thể trái đất đã được biến cho Ta làm nơi phủ phục tinh khiết và sạch sẽ”. Tốt hơn cả, hành lễ nên thực hiện tập thể ở thánh đường. Khi nào khả thi, nên hành lễ hướng mặt về đền Ka’bah ở thành phố Mecca.

 

4.       Các loại hành lễ khác nhau

4.1.      Bắt buộc hay phụ trội

 

Hành lễ gồm loại hành lễ bắt buộc (Farđ) và hành lễ phụ trội (Sunnah).

 

Hành lễ bắt buộc gồm năm lần hành lễ trong một ngày. Không thực hiện một lễ nguyện bắt buộc nào là một tội đáng khiển trách. Hành lễ phụ trội gồm những lễ mà Thiên Sứ  thường làm đều đặn trước hoặc sau mỗi lễ nguyện bắt buộc mà người Muslim gọi là lễ Sunnah.

 

Bảng liệt kê dưới đây cho thấy, mỗi lễ nguyện mang tính (a) Farđ (bắt buộc), (b) Sunnah (phụ trội) và (c) Naafillah (tự nguyện). Thiên Sứ  đã thực hiện các lễ nguyện phụ này trước và sau các lễ bắt buộc. Các lễ phụ này được khuyến cáo. Dưới đây là thứ tự của các lễ phụ:

 

 

Tên lễ nguyện

Số rak’at Sunnah

Số rak’at

Số rak’at Sunnah

Số rak’at

 

Trước khi hành lễ bắt buộc

Bắt buộc

Sau khi hành lễ bắt buộc

Phụ trội

SÁNG

2

2

0

0

TRƯA

2 hoặc 4

4

2

2

CHIỀU

2 hoặc 4

4

0

0

TỐI

0

3

2

2

ĐÊM

2 hoặc 4

4

2

2:3:2

 

4.2.      Hành lễ vào các trường hợp đặc biệt

a.     Trong những trường hợp không thể hành lễ được hoặc đi xa nhà thì ta được phép rút ngắn việc hành lễ. Loại lễ rút ngắn này được gọi là Salaatul-Qasr.

 

Chẳng hạn như khi đi du lịch, lễ trưa (Zuhur), lễ chiều (Asr) và lễ đêm (‘Isha) có thể rút ngắn thành hai đơn vị hành lễ thay vì bốn đơn vị nhưng không được thay đổi hai đơn vị hành lễ của lễ sáng (Fajr) và ba đơn vị hành lễ của lễ tối (Magrib). Ngoài sự rút ngắn này ra, ta có thể bỏ qua tất cả các lễ Sunnah khác ngoại trừ hai đơn vị hành lễ Sunnah của lễ sáng và Witr của lễ đêm. Tuy nhiên, một số Muslim vẫn giữ lễ Sunnah mặc dù đi du lịch xa nhà.

 

b.     Nếu bị đau ốm thì có thể dâng lễ trong tư thế ngồi hoặc nằm và làm dấu thay vì cử động.

c.     Trong thời gian du lịch, hay vì lý do đau ốm hoặc lâm vào tình trạng khẩn cấp, ta được phép nhập lại hai lễ nguyện rời cùng với nhau. Do đó, lễ trưa (Zhur) và lễ chiều (Asr) được thực hiện cùng với nhau vào phần cuối của buổi trưa. Lễ tối (Magrib) và lễ đêm (‘Isha) được thực hiện cùng với nhau vào giai đoạn cuối của buổi tối.

 

5.       Lời gọi đến hành lễ (Adhan)

 

Để tập họp người Muslim tới hành lễ tập thể, lời gọi đến hành lễ (Adhan) được dõng dạc hô lớn để gọi người Muslim đến cùng dâng lễ. Người gọi (Mu’adhin) đứng hướng mặt về đền Ka’bah tại Mecca, đưa hai bàn tay úp vào hai tai hô lớn các lời sau đây:

 

ALLOHU AKBAR (4 lần)

(Allah Vĩ Đại)

 

الله أكبر، الله أكبر

ASH-HAĐU AL-LAA ILAAHA

ILLALLOH (2 lần)

(Bề tôi xác nhận không có thượng đế nào ngoài Allah cả)

 

أَشْهَدُ أَنْ لاَ إِلهَ إِلاَّ اللّه

ASH-HAĐU AN-NA MUHAMMAĐAR ROSUULULLAH (2 lần)

(Bề tôi xác nhận Muhammađ  là Thiên Sứ của Allah)

 

َأَشْهَدُ أَنَّ مُحَمَدًا رَسُوْلُ اللّه

HAYYA ‘ALAS SOLAAH (2 lần)

(Hãy đến hành lễ)

 

حَيَّ عَلَى الصَّلاّة, حّيَّ عَلَى الصَّلاَة

HAYYA ‘ALAL FALAAH (2 lần)

(Hãy đến với sự phát đạt)

 

حَيَّ عَلَى الفَلاَح, حَيَّ عَلَى الفَلاَح

ALLOHU AKBAR (2 lần)

(Allah Vĩ Đại)

 

الله أكبر، الله أكبر

LAA ILAAHA ILLALLOH (1 lần)

(Không có thượng đế nào ngoài Allah cả)

 

لاَ إِلهَ إِلاَّ اللّه

 

 

 

Khi gọi đến hành lễ vào buổi sáng, sau câu “HAYYA ALAL FALAAH” thì đọc thêm một câu nữa:

 

 

 

ASSOLAATU KHAYRUM MINAN NAUM (2 lần)

(Hành lễ tốt hơn là ngủ)

 

الَصَّلاَةُ خَيْرٌ مِّن َالنَّوْمِ, الصَّلاَةُ خَيْرٌ مِِّنَ النَّوم

 

6.       Cầu nguyện (Đu’a) sau lời gọi đến hành lễ

 

Lời gọi đến dâng lễ vừa dứt, người Muslim được khuyến cáo nên đọc các lời cầu nguyện sau đây:

 

OLLAHUMMA RABBA HAAĐIHIIHIĐ ĐA’WA-TIT-TAAM MATI

(Lạy Allah! Chủ Nhân của lời gọi tuyệt hảo này)

 

اللهُمَّ رَبَّ هَذِهِ الدَعْوَةِ التَّامَةِ

WAS-SOLAATIL QAA’IMATI AATI MUHAMMAĐANIL WASIILATA

(Và lễ nguyện sắp bắt đầu này, hãy ban cho Muhammađ sự tiếp cận)

 

وَالصَّلاةِ القَائِمَةِ آَتِ مُحَمَّدَ الوَسِيْلَةَ

WAL FAĐII LATA WAĐ-ĐARAJATAR ROFII‘ATA

(Và sự tiến cử nổi bật và cấp bậc ưu hạng)

 

وَالْفَضِيْلَةَ و الدَّرَجَةَ الرَّافِيعَةَ

WAAB’ATH-HU MAQAAMAM-MAH MUUĐA-NIL LAĐHII WA ‘ATTAH

(Và nâng Người lên địa vị vinh dự mà Ngài đã hứa với Người)

 

وَأَبْعَثَهُ مَقَامًا مَحْمُوْدَ الذِى وَعَدْتّهُ

WAR-ZOQ-NAA SHA FAA ‘ATAHUU YAUMAL-QIYAAMAH

(Và ban cấp sự can thiệp của Người cho chúng tôi vào ngày Phục Sinh)

 

وَارْزَقْنا شَفاعَتَه يَوْمَ القيامة

INNAKA LAA TUKH-LIFUL MI’AAĐ

(Quả thật, Ngài không bao giờ thất hứa cả)

 

إنَّك لا تُخْلِفُ المِيْعَادَ

 

7.       Lời gọi đứng dậy dâng lễ (Iqaamah)

 

Lời gọi đứng dậy dâng lễ giống lời gọi đến để hành lễ nhưng đọc (2 lần) tương đối nhanh và thấp giọng hơn. Sau khi xướng đến câu: Hayya ‘Alal Falaah (1 lần) thì thêm vào câu: Qođ Qoomatis Solaah (2 lần) và tiếp tục câu: Allahu Akbar (2 lần), Laa Ilaha Illolloh (1 lần).  Sau đó việc hành lễ bắt đầu.

 

OLLAHU AKBAR (2 lần)

(Allah Vĩ Đại)

 

الله أكبر، الله أكبر

 

ASH-HAĐU AL-LAA ILAAHA

ILLOLLAH (1 lần)

(Bề tôi xác nhận không có thượng đế nào ngoài Allah cả)

 

أَشْهَدُ أَنْ لاَ إِلهَ إِلاَّ اللّه

ASH-HAĐU AN-NA MUHAMMAĐAR ROSUULULLAH (1 lần)

(Bề tôi xác nhận Muhammađ  là Thiên Sứ)

 

َأَشْهَدُ أَنَّ مُحَمَدًا رَسُوْلُ اللّه

HAYYA ‘ALAS SOLAAH (1 lần)

(Hãy đến hành lễ)

 

حَيَّ عَلَى الصَّلاّة

HAYYA ‘ALAL FALAAH (1 lần)

(Hãy đến với sự phát đạt)

 

حَيَّ عَلَى الفَلاَح

KOĐ KOMATIS SOLAH (2 lần)

(Bắt đầu hành lễ)

 

قَدْ قامَتِ الصَّلاةُ, قَدْ قامَتِ الصَّلاة

 

OLLAHU AKBAR (2 lần)

(Allah Vĩ Đại)

 

الله أكبرالله أكبر

LAA ILAAHA ILLOLLOH (1 lần)

(Không có thượng đế nào ngoài Allah cả)

لاَ إِلهَ إِلاَّ اللّه

 

 

---------- o0o ----------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN BA

 

NGHI THỨC HÀNH LỄ

 

 

Không giống như các tôn giáo khác, lễ nguyện trong Islam là một định chế đặc thù. Nó đưa con người tiếp cận với Thượng Đế bằng cách phối hợp tâm niệm và các động tác cơ thể một cách nhịp nhàng với nhau. Sự phối hợp này cân nhắc sự hài hòa giữa đời và đạo một cách thăng bằng với nhau. Trong khi hành lễ, người Muslim hoàn toàn nạp mình thần phục cho Đấng Tạo Hóa.

 

1.       Nghi thức hành lễ

1.1.      Định tâm

 

Trước tiên, người dâng lễ đứng thẳng (Ảnh 14), tay buông xuôi, mặt hướng về đền Ka’bah tại Mecca và định tâm (cho lễ sáng) như sau:

 

Tôi định tâm dâng lễ sáng (hay lễ trưa, lễ chiều, lễ tối hoặc lễ đêm) hai đơn vị hành lễ bắt buộc (hay phụ trội) dâng lên Thượng Đế.”

 

 

 

 

 

 

Ảnh 14

 

 

 

Dâng lễ trưa phụ trội - “Tôi định tâm dâng lễ trưa hai đơn vị hành lễ phụ trội dâng lên Allah

 

Dâng lễ trưa bắt buộc - “Tôi định tâm dâng lễ trưa bốn đơn vị hành lễ bắt buộc dâng lên Allah

 

 

 

 

1.2.      Takbirotul Ihram (Nói “Ollohu Akbar”)

 

Sau khi định tâm xong thì đưa hai bàn tay lên ngang tai (Ảnh 15) và nói “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại). Đây gọi là Takbirotul Ihram, nghĩa là người dâng lễ sẽ bước vào trạng thái tâm linh cho đến khi dâng lễ xong.

 

 

 

 

Ảnh 15: Nói “Ollohu Akbar”

 

 

 

 

Ảnh 16a: Đứng (Qiyaam)

 

 

 

Ảnh 16b

 

 

 

Sau khi nói “Ollohu Akbar”(Allah Vĩ Đại) đầu tiên (Takbirotul Ihram) thì người dâng lễ sẽ bắt đầu bước vào trạng thái tâm linh cho đến khi dâng lễ xong.

 

 

 

1.3.      Tư thế đứng (Qiyaam)

 

Sau khi nói “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) thì đưa hai bàn tay xuống, đặt tay phải lên tay trái, để giữa ngực và rốn (tư thế này gọi là Qiyaam, xem Ảnh 16a,b) và đọc lời cầu nguyện sau đây:

 

SUBHANAK-ALLOHUMMA WA BI HAMĐIKA

(Thưa Allah, Ngài Quang Vinh, đáng ca ngợi)

 

سُبْحَانَكَ اللَّهُمَّ وَبِحَمْدِكَ

WATABAROK-ASMUKA WA TA’ALA JAĐĐUKA

(Và danh xưng của Ngài thật phúc đức,

Uy nghi của Ngài thật tối cao)

 

وَتَبَارَكَ اسْمُكَ وَتَعَالَى جَدُّكَ

WA LAA ILAAHA GHOYRUKA

(Và không có thượng đế nào ngoài Ngài)

 

وَلاَ إِلَهَ غَيْرُكَ

A’U ZU BILLAHI MINAS-SHAYTONIR ROJIM

(Bề tôi tìm nơi trú ẩn nơi Allah, tránh khi bn Sa-tăng bài bác)

أَعُوذ ُبِاللهِ مِنَ الشَّيْطَانِ الرَّجِيْمِ

 

 

 

Tư thế đứng (Qiyaam) của phái nữ:

 

Hai bàn tay úp trên ngực, tay phải chồng lên tay trái, các ngón tay khép với nhau. Hai khuỷu tay khép với thân người. Khoảng cách giữa hài bàn chân không nên xa quá một gang tay.

 

 

 

Xong đọc chương kinh Al-Fatihah:

 

BISMILLAHI ROHMAAN IR ROHIIM

(Nhân danh Allah, Đấng Rất Mực Độ Lượng, Đấng Rất Mực Khoan Dung)

 

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

ALHAMĐU LILLAHI ROBBIL ‘AALAMIIN

(Mọi ca ngợi dâng lên Allah, Đấng Chủ Tể của vũ trụ)

 

الْحَمْدُ لِلَّهِ رَبِّ العَالَمِينَ

AR-ROHMAAN NIR ROHIIM

(Đấng Rất Mực Độ Lượng, Đấng Rất Mực Khoan Dung)

 

الرَّحْمـَنِ الرَّحِيمِ

 

 

MALIKI YAU MIĐ ĐIIN

(Đấng nắm quyền ngày Xét Xử)

 

مَالِكِ يَوْمِ الدِّينِ

IYYA-KA NA’BUĐU WA IYYA-KA NASTA’IIN

(Duy chỉ Ngài chúng tôi thờ phụng và duy chỉ Ngài chúng tôi cầu xin giúp đỡ)

 

  إِيَّاكَ نَعْبُدُ وَإِيَّاكَ نَسْتَعِينُ

IHĐI NAS-SIRAAT- OL-MUSTAQIIM

(Xin hướng dẫn chúng tôi đi theo con đường ngay chính)

 

   اهْدِنَا الصِّرَاطَ المُسْتَقِيمَ

SIRAAT-TOLLAĐHINA AN’AMTA ‘ALAIHIM

(Con đường của những người mà Ngài đã ban ân)

 

صِرَاطَ الَّذِينَ أَنْعَمْتَ عَلَيْهِمْ

GHOIRIL MAGHĐU BI ‘ALAIHIM

(Khác với con đường của những kẻ làm Ngài giận dữ)

 

غَيْرِ المَغْضُوبِ عَلَيْهِمْ

WA LAĐ-ĐOOL LIIN (AMIIN)

(Cũng không phải (con đường) của những kẻ lầm lạc - Amin)

 

وَلاَ الضَّالِّينَ . آمين.

 

Sau đó, đọc chương kinh dưới đây hoặc bất cứ chương kinh nào của Thiên Kinh Qur’an:

 

BISMILLAHI ROHMAANIR - ROHIIM

(Nhân danh Allah, Đấng Rất Mực Độ Lượng, Đấng Rất Mực Khoan Dung)

 

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

QUL HUW-OLLOHU AHAĐ

(Hãy bảo: Ngài, Allah là Duy Nhất)

 

قُلْ هُوَ اللَّهُ أَحَدٌ

OLLOH-HUS-SOMAĐ

(Allah là Đấng mà tất cả đều nương tựa)

 

الله الصَّمَد

LAM YALIĐ WA LAM YUU LAĐ

(Ngài không sinh đẻ ai và không ai sinh đẻ Ngài)

 

لَمْ يَلِدْ وَلَمْ يُولَدْ

WA LAM YAKUN LAHU KUFUWAN AHAĐ

(Và không ai (hay cái gì) có thể so sánh với Ngài)

 

وَلَمْ يَكُن لَّهُ كُفُواً أَحَدٌ

1.4.      Tư thế cúi đầu (Ruku’)

Xong hô lên “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) và cúi đầu về phía trước, đặt hai bàn tay lên hai đầu gối (Ảnh 17a,b). Đây là tư thế cúi đầu (Ruku’).

 

 

 

Ảnh 17a: Cúi đầu (Ruku’)

 

 

 

Ảnh 17b

 

 

Trong lúc đang cúi đầu, đọc các lời sau đây 3 lần:

 

SUBHAANA ROBBI-YAL ‘AZIIM

(Đấng Chủ Tể Chí Đại của bề tôi thật quang vinh!)

سُبْحَانَ رَبِّيَ العَظِيْم

1.5.      Đứng thẳng trở lại (Qaumah)

 

Sau đó, đứng thẳng người trở lại và đọc trong lúc đang trở về tư thế đứng thẳng (Ảnh 18):

 

SAMI ALLOHU LI  MAN HAMIĐAH

(Allah đã nghe lời của người ngợi ca Ngài)

 

سَمِعَ اللهُ لِمَنْ حَمِدَهُ

 

 

 

Ảnh 18:  Đứng thẳng người trở lại (Qaumah)

 

 

Tư thế này gọi là Qaumah. Sau khi đứng thẳng người, đọc tiếp:

 

ROBBANA LAKAL HAMĐU

(Thưa Đấng Chủ Tể của chúng tôi! Mọi lời ngợi ca dành cho Ngài!)

 

رَبَّنَا لَكَ الحَمْدُ

1.6.      Phủ phục (Sujuuđ) lần thứ nhất

 

Sau đó nói “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) rồi quỳ mọp đầu xuống đất sao cho trán, mũi, hai bàn tay, hai đầu gối và hai đầu ngón chân cái chấm đất (bàn chân thẳng đứng).

 

 

 

Ảnh 19:  Phủ phục (Sujuuđ) thứ nhất

 

Trong tư thế phủ phục này (Ảnh 19) đọc ít nhất ba lần các lời sau đây:

 

SUBHANA ROBBI YAL ‘ALAA

(Đấng Chủ Tể Tối Cao của bề tôi thật quang vinh!)

 

سُبْحَانَ رَبِّيَ الأَعْلَى

1.7.      Ngồi nghỉ ngắn (Jalsah)

 

Xong nói “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) và ngồi dậy thẳng lưng, hai bàn chân úp dưới mông, hai đầu gối vẫn còn chấm đất, nghỉ một chút, (tư thế này gọi là Jalsah tức là ngồi nghỉ giữa hai lần phủ phục)

 

 

Ảnh 20:  Ngồi nghỉ ngắn (Jalsah)

 

 

Trong tư thế ngồi nghỉ ngắn (Ảnh 20) đọc các lời sau đây (1 lần):

 

الَّلهُمَّ اغْفِرْلِيْ وارْحَمْنِيْ وَهْدِنِيْ وَ عَافِنِيْ وَارْزَقْنِيْ

 

 

OLLOHUMMAGH-FIR LI, WAR-HAMNI WAHĐINI WA’AA FINI WAR ZAQNI

(Ôi Allah! Xin tha thứ cho bề tôi, ban hồng ân cho bề tôi, dìu dắt bề tôi và nuôi dưỡng bề tôi)

 

1.8.      Phủ phục (Sujuuđ) lần thứ hai

 

Sau đó, nói “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) và phủ phục lần thứ hai và lặp lại các lời tán dương “Subhana Robbi Yal ‘Alaa” (Đấng Chủ Tể Tối Cao của bề tôi thật quang vinh) như lần phủ phục trước. Đến đây là trọn một đơn vị hành lễ (một rak’at).

 

 

 

Ảnh 21: Phủ phục (Sujuuđ) thứ hai

 

Sau đó, người dâng lễ nói “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) và đứng dậy thi hành tiếp đơn vị hành lễ thứ hai giống như lần thứ nhất, từ thế đứng (Qiyaam) cho đến kết thúc bằng tư thế phủ phục (Sujuuđ) cuối cùng.

 

1.9.      Đọc lời chào tiếp diện (Tashahuđ)

 

Sau đơn vị hành lễ thứ hai thứ hai này (Rak’at thứ hai), anh ta ngồi dậy đặt úp bàn chân trái dưới mông và hướng nó về bàn chân phải bây giờ được dựng đứng thẳng góc với mặt đất, các ngón chân chạm mặt đất. Hai bàn tay đặt trên bắp vế gần đầu gối sao cho các ngón tay ngang bằng đầu gối.

 

 

 

Ảnh 22:  Ngồi nghỉ dài (Qa’đah)

 

 

 

Tư thế ngồi nghỉ dài (Qa’đah) của phái nữ:

 

Mông chạm đất, bàn chân trái đặt dưới chân phải. Hai bàn tay đặt trên bắp vế sao cho các ngón tay ngang bằng đầu gối.

 

 

Trong tư thế ngồi nghỉ dài này (Ảnh), người dâng lễ đọc thầm các lời chào tiếp diện (Tashahuđ) như sau:

 

ATTA-HIYYA-TUL MUBAAROKAA TUSOLAWA TUTTOYIBAATU LILLAH 

(Mọi lời chúc tụng phúc đức cầu xin tốt đẹp thuộc về Allah)

 

التَّحِيَّاتُ المُباَرَكاتُ الصَّلَوَاتُ الطَّيِّبَاتُ للِّه

AS-SALAAMU ‘ALAIKA AYYUHAN-

NABIY-YU WA RAHMAT-ULLOHI 

WA BAROKA-TUH

(Ban  bằng an cho Nời, hỡi Thiên Sứ!  Từ hồng ân của Allah và ân phúc của Ngài)

 

وَالسَّلاّمُ عَلَيْكَ أَيُّهَا النَّبِيُ وَرَحْمَةُ اللهِ وَبَرَكاَتُه,

AS-SALAAMU ‘ALAINA WA ‘ALAA IBAĐIL-LAHIS-SOOLIHIIN

(Ban bằng an cho chúng tôi và cho những người bề tôi hiếu đức của Allah)

 

السَّلاَمُ عَلَيْنَا, وَعَلَى عِبَادِ اللهِ الصَّالِحِين

 

 

Khi đọc câu này, người dâng lễ giơ ngón trỏ tay phải lên cao khỏi đầu gối biểu tượng tính duy nhất của Allah, xong hạ ngón tay xuống để lên đầu gối lại (Ảnh 23a,b).

 

 

 

ASH-HAĐU AN-LAA ILAAHA  ILOLLOH

(Tôi xác nhận rằng không có thượng đế nào ngoài Allah cả)

َأَشْهَدُ أَنَّ لاَ إِلَهَ إلا الله

 

 

Ảnh 23a

 

 

Ảnh 23b

 

 

WA ASH-HAĐU ANNA MUHAMMAĐAN ABĐU-HU WA ROSULUH

(Và bề tôi xác nhận rằng Muhammađ là bề tôi, là Thiên Sứ của Ngài)

وَأَشْهَدُ أن مُحمدًا عَبْدُهُ وَرَسُولُه

 

 

 

Ngoại trừ lễ sáng chỉ có hai Rak’at, các lễ khác như lễ tối (3), lễ trưa (4), lễ chiều (4) và lễ đêm (4) có hơn hai Rak’at. Người dâng lễ sau khi đọc dứt các lời chào tiếp diện (Tashahuđ) phải đứng dậy lễ tiếp để hoàn tất số Rak’ah còn lại và kết thúc cuộc lễ. Để kết thúc việc hành lễ, người dâng lễ phải đọc tiếp phần cầu phúc cho Thiên Sứ  dưới đây:

 

 

 

Và đọc lời cầu phúc (Đaruut) cho Thiên Sứ  tiếp tục sau lời chào tiếp diện (Tashahuđ) để kết thúc cuộc dâng lễ:

 

OLLAHUMMA SOLLI ‘ALAA MUHAMMAĐIN WA ‘ALAA AALI MUHAMMAĐ

(Lạy Allah! Xin ban phúc cho Muhammađ và các tín đồ theo Muhammađ)

 

الَّلهُمَّ صَلَّى عَلَى مُحمدٍ وَ عَلى آل مُحمدٍ

KAMAA SOLLAYTA ‘ALAA IBRAHIIMA WA ‘ALAA AALI IBRAHIIM

(Như việc Ngài đã ban phúc cho Ibrahim và các tín đồ theo Ibrahim)

 

كَمَا صَلَّيْتَ عَلى إِبْرَاهِيم وَعَلى آل إِبْرَاهِيم

INNAKA HAMIIĐUM MAJIIĐ   

(Ngài quả thật đáng ca ngợi và vinh hiển)

 

إنَّكَ حَمِيْدُ مَجِيدٌ

ALLAHUMMA BAARIK ‘ALAA MUHAMMAĐIN WA ‘ALAA AALIMUHAMMAĐIN

(Lạy Allah! Xin Ngài ban phúc cho Muhammađ và cho các tín đồ theo Muhammađ)

 

الَّلهُمَّ بارك عَلَى مُحمدٍ وَ عَلى آل مُحمدٍ

KAMA BARAKTA ‘ALA IBRAHIM WA ‘ALAA  AALI IBRAHIM

(Như Ngài đã ban phúc cho Ibrahim và các tín đồ theo Ibrahim)

 

كَمَا باركتَ عَلى إِبْرَاهِيم وَعَلى آل إِبْرَاهِيم

INNAKA HAMIIĐUM MAJIIĐ

 (Ngài thật đáng ca ngợi và vinh hiển)

 

إنَّكَ حَمِيْدُ مَجِيدٌ

 

Sau đó, đọc thầm các lời cầu nguyện sau đây (không bắt buộc):

 

RABBIJ-‘ALNI MUQIMAS-SOLAATI WA MIN ZURRIYYATI

(Lạy Đấng Chủ Tể của bề tôi! Xin làm bề tôi và các con của bề tôi giữ vững lễ nguyện)

 

رَبّ ِاجْعَلْنِيْ مُقِيْم َالصَّلاةِ وَ مِنْ ذُرِّيَّتِيْ

RABBANA  TA-QABBAL ĐU’AI, RABBANAGH FIRLI

(Lạy Đấng Chủ Tể của chúng tôi! Xin chấp nhận lời cầu nguyện; Lạy Đấng Chủ Tể của chúng tôi!  Xin tha thứ cho bề tôi)

 

ربنا تَقَبَّلْ دُعَاءِ ، رَبَّناَ آغْفِرْ لِيْ

 

WALI WAALIĐAYYA WALIL MU’MI NIINA YAUMA YAQUUMU HISAAB

(Và cho cha mẹ của bề tôi và cho những người có đức tin vào ngày Phán Xử cuối cùng)

 

وَ لِوَالِيدّيََّ وِ لِلْمُؤْمٍنٍيْنَ يَوْمَ يَقُوْمُ الحِسَابُ

 

Để kết thúc cuộc dâng lễ, quay mặt sang phía bên phải (Ảnh 24) và nói các lời chào bình an (Tasliim) sau đây:

 

 

 

Ảnh 24:  Chào bình an (Tasliim) bên phải

 

 

AS-SALAAMU ‘ALAIKUM WA RAHMATULLOH

(Sự bình an và hồng ân của Allah cho quý vị)

السَّلامُ عَليْكٌمْ وَ رَحْمَةٌ اللهِ

 

Sau đó, quay mặt sang phía bên trái và lặp lại các lời lời chào như trên (Ảnh 25). 

 

 

Ảnh 25: Chào bình an (Tasliim) bên trái

 

 

 

Sau khi kết thúc lời chào Taslim thì người hành lễ sẽ bước ra khỏi trạng thái tâm linh (Ihram) và trở về với trạng thái trần tục.

 

 

Như thế là trọn hai đơn vị hành lễ (Rak’at) và chấm dứt lễ sáng. Tuy nhiên, đối với các cuộc lễ nguyện có hơn hai đơn vị hành lễ thì người dâng lễ đọc “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) rồi đứng dậy dâng lễ tiếp đến khi trọn các đơn vị hành lễ còn lại.

 

Trong hai lễ trưa và lễ chiều, Al-Fatihah cũng như các lời kinh khác chỉ được đọc thầm trong miệng thôi. Ngược lại, trong hai Rak’at đầu của lễ sáng, lễ tối và lễ đêm, người hành lễ đọc lớn tiếng các lời kinh của Qu’ran sau Al-Fatihah, nhưng chỉ được phép đọc thầm Al-Fatihah trong các Rak’at còn lại.

 

2.       Đoạn kinh để đọc sau khi kết thúc lễ nguyện

Sau đây là những đoạn kinh mà Thiên Sứ  hay đọc sau khi chào bình an (Tasliim):

 

OLLOHU AKBAR

(Allah Vĩ Đại)

 

ألله أكبر

ASTAGHFIRULLOH (3lần)

(Bề tôi cầu xin Allah tha thứ)

 

أَسْتَغْفِرُ الله

OLLOHUMMA ANTASSALAAMU WA MINKASSALAAMU TABARAKTA YAA ĐHAL-JALAALI  WAL  IKRAAM

(Ôi Allah! Ngài là hòa bình, hòa bình đến từ Ngài, phúc đức thay Ngài, Đấng Uy Nghi và Hiển Vinh)

 

اللَّهُمَّ أَنْتَ السّلامُ وَ مِنْكَ السَّلامُُ تَباَرَكْتَ ياَ ذا الجَلالِِ والإكْرامِ

ROBBIJ A’LNI ‘ALA ĐHIK-RIKA WA SHUK-RIKA WA HUSNI ‘IBAAĐATIK

(Lạy Đấng Chủ Tể của bề tôi! Xin giúp bề tôi tưởng nhớ Ngài, đa tạ Ngài và thờ phụng Ngài tốt đẹp)

 

رَبِّ اجْعَلْني على ذِكْرِكَ وَ شُكْرِكَ وَ حُسْنِي عِبَادَتِك

LAA ILAAHA ILLOLLOH WAHĐAHU LAA SHARIIKA LAH, LAHULMULKU  WA LAHUL-HAMĐU WA HUWA ‘ALAA  KULLI  SHAY-IN QOĐIIR،  OLLOHUMMA  LAA MAA-NI’A LIMAA A’TAYTA WA LAA MU’TIY  LIMAA MANA’TA ،WA LAA YANFA’U ĐHAL-JAĐĐA MINKAL JAĐĐ

(Không có thượng đế nào ngoài Allah cả. Ngài Duy Nhất. Ngài không có ai hợp tác. Quyền uy là của Ngài, lời ngợi ca thuộc về Ngài. Ngài có toàn quyền trên mọi vật. Ôi Allah! Không ai cản được cái mà Ngài ban cấp và không ai ban được cái mà Ngài ngăn cản; quyền cao của kẻ lớn không giúp y chống lại Ngài đặng)

 

لاَ إِلَهَ إلا الله وَحْدَهٌ لاَ شَرِيْكَ لَهُ, لَهُ المُلْكُ, وَلَهُ الحَمْدُ وَهُوَ عَلى كُلِّ شَيْء قَدِير, اللَّهُمَّ لاَ مَانِع لِمَا أَعْطَيْتَ, وَلاَ مُعْطِي لِمَا مَنَعْتَ. وَلاَ يَنْفَعُ ذَا الجَدَّ مِنْكَ الجَدَّ

LAA ILAAHA ILLOLLOH WAHĐAHU LAA SHARIIKA LAH, LAHUL MULKU WA LAHUL HAMĐU WA HUWA ‘ALAA KULLI  SHAY-IN QOĐIIR, LAA HAWLA WA LAA QUWWATA ILLA BILLAHI, LAA ILAAHA ILLOLLOHU WA LAA NA’ BUĐU ILLAA IYYAAH, LAHUN-NI’MATU WA LAHUL FAĐLU WA LAHUTH THANA- UL HASANU LAA ILAAHA ILLALLAHU MUKHLISIINA LAHUĐ-ĐIINA WA LAW KARIHAL KAAFIRUUN

 

(Không có thượng đế nào ngoài Allah cả. Ngài là Đấng Duy Nhất. Ngài không có ai hợp tác. Quyền uy là của Ngài. Lời ngợi ca thuộc về Ngài. Ngài có toàn quyền trên mọi vật. Quyền hành và sức mạnh đều do Ngài ban.  Không có thượng đế nào ngoài Allah cả. Chúng tôi chỉ thờ phụng riêng Ngài, ân huệ của Ngài và ân sủng của Ngài, mọi lời ngợi ca tốt đẹp nhất là của Ngài. Không có thượng đế nào ngoài Ngài cả. Chúng tôi thành tâm thờ phụng Ngài cho dù có bị bọn ngoại đạo ganh ghét)

 

لاَ إِلَهَ إلا الله وَحْدَهُ لاَ شَرِيْكَ لَهُ, لَهُ المُلْكُ, وَلَهُ الحَمْدُ وَهُوَ عَلى كُلِّ شَيْء قَدِير، لاَ حَوْلَ وَ لاَ قُوَّةَ إِلاَّ بِاللهِ، لاَ إِلَهَ إِلاَّ الله وَ لاَ نَعْبُدُ إِلاَّ إِيَّاهُ، لَهُ نِعْمَةِ وَ لَهُ الفَضْلُ وَلَهُ  ثَّنَاءُ الحُسْن، لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ مُخْلِصِيْنَ لَهُ الدِّيْنَ وَ لَوْ كَرِهَ الكَافِرون

OLLOHUMMA INNI A’UUĐHU BIKA MINAL JUBNI WA A’UUĐHU BIKA MINAL BUKHLI WA A’UUĐHU BIKA MIN-ARĐHALAL ’UMUR, WA A’UU ĐHU BIKA MIN FITNATIĐ-ĐUNYAA WA ‘AĐHAA BIL QOBRI

 

(Ôi Allah! Bề tôi xin Ngài che chở khỏi bị nhút nhát; và bề tôi xin Ngài che chở khỏi sự keo kiệt; và bề tôi xin Ngài che chở khỏi cảnh lụ khụ tuổi già cùng cực của cuộc đời. Bề tôi xin Ngài che chở khỏi sự cám dỗ ở trần gian và sự trừng phạt của ngôi mộ)

 

الَّلهُمَّ إِنِّي أَعُوْذُ بِكَ مِنَ الجُبْنِ وَ أَعُوْذُ بِكَ مِنَ البُخْلِ وَ أَعُوْذُ بِكَ مِنَ ارْذِلَّ العُمُرِ وَ أَعُوْذُ بِكَ مِنْ فِتْنَةِ الدُّنْيَا وَ عَذابِ القَبْرِ.

SUBHAAN - OLLOH  (33 lần)

(Vinh quang thay Allah!)

 

سُبْحَانَ الله

WALHAMĐU LILLAH (33 lần)

(Mọi lời tán dương tốt đẹp nhất đều kính dâng Allah)

 

و الحَمْدُ للِّه

OLLOHU AKBAR (33 lần )

(Allah Vĩ Đại)

 

اللهُ أَكْبَر

 

3.       Các điều làm hỏng cuộc hành lễ

Nếu vi phạm các điều sau đây thì cuộc hành lễ sẽ trở nên vô hiệu (Nawaaqiđul Salaat):

3.1.      Cố ý ăn hay uống.

3.2.      Nói chuyện trong khi hành lễ.

3.3.      Làm việc trong khi hành lễ (nghĩa là không tập trung vào việc hành lễ).

3.4.      Không thực hiện đúng các điều cơ bản của hành lễ.

3.5.      Cười lớn trong khi hành lễ.

3.6.      Hỏng sự thanh tẩy (ví dụ như trung tiện)

 

4.       Phủ phục khi bị sao lãng trong lúc hành lễ

 

Sujuuđ-us-Sahw là phủ phục để chuộc việc thiếu sót hay quên những động tác cơ bản của việc hành lễ. Nó gồm hai lần phủ phục trước hay sau lời chào Taslim. Nếu phủ phục sau lời chào Taslim thì người hành lễ phải đọc câu tuyên thệ của người Muslim, lời tán dương (Daruud), lời cầu nguyện (Du’a) và nói lời chào Taslim trở lại. Nếu phủ phục trước khi chào Taslim thì người hành lễ không phải đọc câu tuyên thệ và lời tán dương.

 

5.       Lễ bù (Qadaa-us Salaat)

 

Qadaa-us Salaat là lễ bù. Nếu vì lý do bất khả kháng, không dâng lễ bắt buộc vào đúng giờ giấc quy định được thì nên tranh thủ dâng lễ đó càng sớm càng tốt. Thượng Đế nghiêm khắc cảnh cáo những ai cố tình trì hoãn việc hành lễ (Chương 19, câu 59-60). Ngoài ra không cần phải làm bù cho lễ phụ (Sunnah) hay phụ trội (Naafilah) ngoại trừ lễ Sunnah bắt buộc (Sunnah Muakkadah) như Witr.

 

 

 

 

 

 

 

Bạch Thánh Đường Abu Dhabi Sheikh Zayed ở

Tiểu Vương Quốc Ả-Rập Thống Nhất (UAE)

 

 

---------- o0o ----------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN BỐN

 

LỄ NGUYỆN VÀO CÁC DỊP ĐẶC BIỆT

 

1.       Hành lễ ngày thứ sáu

 

Ngoài các lễ nguyện thường trực hàng ngày, hành lễ ngày thứ sáu là bắt buộc đối với người Muslim nam. Nó không bắt buộc đối với phái nữ nhưng cũng không cấm họ đến thánh đường miễn sao là không sao lãng trách nhiệm của họ.

 

Hành lễ ngày thứ sáu (Salaat-ul Jum’ah) được cử hành tập thể vào ngày thứ sáu vào giờ lễ trưa, theo truyền thống được cử hành tại thánh đường.

 

Lễ nguyện ngày thứ sáu đặc biệt chỉ gồm có hai đơn vị hành lễ còn hai đơn vị hành lễ kia được thế vào bài thuyết giáo (Khutbah).  Người đứng ra thuyết giáo gọi là ông Khatib.

 

Lễ thứ sáu có nhiều nghi thức khác với lễ thường ngày.  Nó bắt đầu từ lúc vị thuyết giáo (Khatib) bắt đầu bước lên bục giảng (cao ráo để tín đồ có thể thấy mặt ông ta). Sau đó một người phụ tá đứng lên gọi lời gọi đến hành lễ (Adhan). Vị thuyết giáo sẽ giảng kinh sau lời gọi hành lễ (Adhan).

 

Sau khi bài thuyết giáo kết thúc thì người phụ tá đứng lên xướng lời gọi đứng dậy hành lễ (Iqamaat) để mọi người bắt đầu dâng lễ. Hành lễ ngày thứ sáu gồm hai đơn vị hành lễ giống như lễ sáng.

 

2.   Lễ Tarawih

 

Lễ Tarawih là lễ phụ (Sunnah) vào tháng nhịn chay Ramadan, được thực hiện sau lễ đêm. Nó gồm tám (8), mười hai (12) hoặc hai mươi (20) đơn vị hành lễ, được thực hiện từng cặp hai đơn vị hành lễ rồi sau đó nói lời chào Taslim giống như lễ sáng. Cứ sau bốn đơn vị hành lễ thì nghỉ một chút rồi tiếp tục cho đến hết số đơn vị hành lễ còn lại. Nó được kết thúc bằng lễ Witr.

 

3.       Lễ Witr

 

Witr có nghĩa là “lẻ”.  Trong việc hành lễ thì Salaat-ul-Witr gồm có ba đơn vị hành lễ sau lễ Sunnah vào buổi tối. Theo trường phái Shafiy thì lễ Witr được kể như là Sunnah bắt buộc. Còn các trường phái khác thì xem nó như là Sunnah bình thường mà thôi.

 

Lễ Witr được thực hiện giống như lễ tối (Magrib) gồm ba đơn vị hành lễ. Nhưng có các điểm khác biệt sau:

 

a.     Đọc kinh lớn tiếng trong cả ba đơn vị hành lễ kể cả chương kinh Al-Fatiha và các lời kinh khác.

b.     Đọc lời chào tiếp diện (Tashahuđ) hai lần và nói lời chào bình an Taslim (một hoặc hai lần).

c.     Trong những trường hợp quan trọng, người dâng lễ đọc lời cầu nguyện Đu’a-al-Qunut trong tư thế đứng thẳng người ở đơn vị hành lễ thứ ba. Trong tư thế này, người hành lễ đưa hai bàn tay lên ngang vai trong tư thế cầu xin và đọc lời cầu nguyện như sau:

 

ALLO-HUMMAH ĐINY FI MAN HA-ĐAIT

(Lạy Allah, xin Ngài hướng dẫn bề tôi trong số những người được Ngài hướng dẫn. )

 

اللَّهُمَّ اهْدِنِيِ فِيْمَن هَدَيتَ

WA ‘AAFINY FI-MAN ‘AAFAIT

(và che chở bề tôi trong số những người được Ngài che chở)

 

وَعَافِنِي فِيْمَن عَافَيْتَ

WA TAWLLA-NY FI-MAN TAWALLAY-TA WA BARAKLY FI-MAN A‘ATAYT

(Ban ân sủng, phúc lộc cho bề tôi về những gì Ngài đã ban và che chở từ những điều xấu xa do Ngài đã ra lệnh)

 

وَتَوَّلّنِي فِيْمَن تَوَلَّيْتَ وَبَاِركْ لِي فِيْمَنْ أَعْطَيْتَ

WA KINY WASROF AN-NY SHARRO MA QOĐAITA FA-INNAKA TOQ-ĐY WALA YUQĐO ALAIK

(và khi Ngài đã ra lệnh thì không một ai chống lại được. Thật vậy, kẻ nào được Ngài hài lòng chiếu cố, sẽ không bị thua thiệt,)

 

وَقِنِي وِاصْرَفْ عَنَّي شَرَّ مَا قَضَيْتَ, فَإنَّكَ تَقْضِي وَلاَ يُقْضَى عَلَيْكَ

 IN NA-HU LA YA ZILLU MAN WAALAITA WA LA YAIZZU MAN ‘AAĐAIT

(còn ai chống lại Ngài thì họ sẽ không bao giờ được vinh hạnh)

 

إِنَّهُ لاَ يَذِلُّ مَن وَالَيْتَ, وَلا يَعِزُّ مَن عَادَيْتَ

TABAARAKTA ROBBANA WATA-‘AALAIT

(Thượng Ðế của chúng tôi đầy ân sủng và cao cả.)

 

تَبَارَكْتَ رَبَّنَا وَتَعَالّيْتَ

ALLOHUMMA INNY A’UUZU BIRIĐOKA MIN SIKHTIKA

WA BIMU-‘AAFATIKA MIN UQUBATIK

(Ôi Allah! Bề tôi xin được che chở và gia hộ từ sự từ bi và ân huệ từ cơn giận của Ngài)

 

اللهم إِ نِّي أَعُوْذُ بِرِضَاكَ مِن سِخْطِكَ وَبِمُعَافَاتِكَ مِن عُقُوْبَتِكَ

WA BIKA MINKA LA AHSO SANA’A ‘ALAIKA, ANTA KAMA ASNAY-TA ‘ALA NAFSIK

(Ở Ngài duy nhất mà tất cả những sự ca ngợi khen thưởng đều hướng về và ở Ngài duy nhất thôi mới đáng được ca ngợi và khen thưởng)

 

وَبِكَ مِنكَ لاَ أَحْصَي ثَنَاء عَلَيْكَ

, أَنْتَ كَمَا أَثْنَيْتَ عَلى نَفْسِكَ

WA SHOL LOLLOHU ‘ALA NABIYI WA ÁLIHY WA SALLAM

(Cầu xin sự ân sủng và bình an cho Thiên Sứ và gia quyến của Người)

وصلى الله على النبي وآله وسلم

 

Khi đọc xong, người dâng lễ nói “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) và phủ phục hai lần như thông thường, đọc lời chào tiếp diện (Tashahuđ), lời chúc phúc Thiên Sứ (Đaruut) và lời chào bình an (Taslim).

 

4.       Hai ngày đại lễ (Salaat-al-Eidain)

 

Người Muslim có hai đại lễ (Eid) trong một năm. Đại lễ thứ nhất gọi là Eid-al-Fitr (lễ Xả Chay) tức là ngày lễ kết thúc tháng nhịn chay Ramadan và lễ thứ hai là Eid-al-Adha (lễ Hiến Tế).

 

Lễ Xả Chay (Eid-al-Fitr) được cử hành vào ngày mồng một tháng 10 (tháng Shawwal) Hồi lịch, tức là sau tháng nhịn chay (Ramađan) của người Muslim.

 

Nó là lễ tạ ơn lớn của người Muslim dâng lên Thượng Đế, Đấng Tối Cao đã giúp họ vượt qua sự thử thách của việc kiêng nhịn trong tháng vừa qua. Nhân dịp này, mỗi người Muslim, không phân biệt già, trẻ, lớn, bé đều phải đóng của bố thí (Zakaat-Al-Fitr) trước khi dâng đại lễ. Người Muslim đóng Zakaat-Al-Fitr bằng tiền hay hiện vật quy định bởi tổ chức của cộng đồng dùng để giúp đỡ những người Muslim đói khổ, thiếu may mắn để họ có cơ hội chung vui cùng với mọi người.

 

Đại lễ thứ hai là lễ Hiến Tế (Eid-al-Adha) được cử hành vào ngày mồng mười tháng 12 (tháng Dhul Al-Hijjah) của Hồi lịch. Nó tưởng niệm biến cố về sự hy sinh của Thiên Sứ Ibrahim vì theo lệnh của Thượng Đế mà ông hy sinh ngay cả đứa con yêu quý là Thiên Sứ Ismael để đem đi tế. Xác nhận sự trung thành của Thiên Sứ Ibrahim, Thượng Đế - Đấng Tối Cao đã màu nhiệm thế mạng cho Ismael với con cừu tơ.

 

Trong hai đại lễ này, việc hành lễ được cử hành tập thể tại một địa điểm rộng lớn vào buổi sáng, bất cứ lúc nào từ khi mặt trời mọc cho đến trưa. Không có lời gọi đến hành lễ (Adhan) và cũng không có lời gọi đứng dậy hành lễ (Iqoomah).

 

Hành lễ ngày đại lễ gồm hai đơn vị hành lễ (Rak’at) tương tự như hành lễ ngày thứ sáu. Tuy nhiên, sau khi nói “Allahu Akbar” (Allah Vĩ Đại) để khởi xướng việc hành lễ, vị chủ lễ đọc thêm bảy (7) Takbir (Allahu Akbar) nữa tổng cộng tất cả là 8 Takbir trước khi đọc chương kinh Al-Fatiha và đọc thêm năm (5) Takbir nữa sau khi nói “Allahu Akbar” trong lúc đứng lên tiến hành đơn vị hành lễ thứ hai, tổng cộng là sáu (6) Takbir trước khi đọc chương kinh Al-Fatiha lần thứ hai.

 

Sau khi dâng đại lễ, vị chủ lễ (Imaam) sẽ đọc bài thuyết giáo. Bài thuyết giáo này khác với ngày thứ sáu là nó được đọc sau khi dâng lễ. Còn bài thuyết giáo ngày thứ sáu được rao giảng trước khi dâng lễ.

 

Tất cả người Muslim già, trẻ, lớn, bé được khuyến cáo phải đi tham dự.

 

5.       Lễ an táng (Salatul-Janaazah)

 

Salaatul Janaazah là lễ an táng cho người qua đời. Nó không bắt buộc đối với tất cả người Muslim. Nếu một số người đứng ra tiến hành lễ an táng thì những người khác được miễn. Nếu không ai biết làm thì nó trở thành điều bắt buộc. Lễ an táng được cử hành tập thể do một thân nhân của người đã khuất làm chủ lễ (Imaam) hoặc do người được người đã khuất để lại di chúc chỉ định làm chủ lễ. Nếu thân nhân hoặc người được di chúc chỉ định không có khả năng làm chủ lễ thì có thể nhờ người có khả năng trong cộng đồng. Người đã khuất được đặt nằm ngang trước mặt vị chủ lễ đứng hướng về phía Ka’bah tại Mecca. Theo lối thực hành của Thiên Sứ, nếu người đã khuất là nam thì vị chủ lễ đứng ở phía ngang vai của ông ta, và đứng ở phía thắt lưng nếu người đã khuất là nữ. Những người còn lại đứng đằng sau vị chủ lễ. Lễ an táng không giống với hành lễ bình thường, nó không có tư thế cúi đầu và không phủ phục. Tất cả đều thực hiện dưới tư thế đứng. Nó chỉ gồm bốn lần Takbir (nói “Ollohu Akbar”).

 

5.1.      Lần Takbir thứ nhất

 

Vị chủ lễ đưa hai bàn tay lên ngang tai và nói “Allahu Akbar” (Allah Vĩ Đại), xong hạ tay xuống, để bàn tay phải trên tay trái ở vị trí giữa ngực và rốn, sau đó đọc thầm lời mở đầu dâng lễ dưới đây:

 

SUBHANA-KALLAHUMMA WA BIHAMĐIK

 (Allah Quang Vinh và mọi ngợi ca dâng lên Ngài)

 

سبحانك اللهم و بحمدك

WA TABARAKASMUKA WA TA‘ALAA JAĐĐUK

(Và danh Ngài thật phúc đức và uy nghi, Ngài cao cả)

 

و تبارك اسمك و تعالى جدك

WA LAA ILAAHA GHAIRUKA

(Và không có thượng đế nào ngoài Ngài cả)

و لآ إله غيرك

 

5.2.      Lần Takbir thứ hai

 

Sau lần Takbir thứ nhất, vị chủ lễ hô “Allahu Akbar” (Allah Vĩ Đại). Sau đó ông đọc thầm lời cầu phúc cho Thiên Sứ  .

 

OLLOHUMMA SALLI ‘ALAA MUHAMMAĐIN WA ‘ALAA AALI MUHAMMAĐIN

(Lạy Allah! Xin ban phúc cho Muhammađ và các tín đồ theo Muhammađ)

 

الَّلهُمَّ صَلَّى عَلَى مُحمدٍ وَ عَلى آل مُحمدٍ

 

KAMAA SOLLAYTA ‘ALAA IBROHIIMA WA ‘ALAA AALI IBROHIIMA

(Như việc Ngài đã ban phúc cho Ibrahim và các tín đồ theo Ibrahim)

 

كَمَا صَلَّيْتَ عَلى إِبْرَاهِيم وَعَلى آل إِبْرَاهِيم

INNAKA HAMIIĐUM MAJIIĐ   

(Ngài quả thật đáng ca ngợi và vinh hiển)

 

إنَّكَ حَمِيْدُ مَجِيدٌ

OLLOHUMMA BAARIK ‘ALAA MUHAMMAĐIN WA ‘ALAA AALI MUHAMMAĐIN

(Lạy Allah! Xin Ngài ban phúc cho Muhammađ và cho các tín đồ theo Muhammađ)

 

الَّلهُمَّ بارك عَلَى مُحمدٍ وَ عَلى آل مُحمدٍ

KAMA BARAKTA ‘ALA IBROHIM WA ‘ALAA  AALI IBROHIM

(Như Ngài đã ban phúc cho Ibrahim và các tín đồ theo Ibrahim)

 

كَمَا باركتَ عَلى إِبْرَاهِيم وَعَلى آل إِبْرَاهِيم

INNAKA HAMIIĐUM MAJIIĐ

 (Ngài thật đáng ca ngợi và vinh hiển)

 

إنَّكَ حَمِيْدُ مَجِيدٌ

 

5.3.      Lần Takbir thứ ba

 

Sau khi hô “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) lần thứ ba, vị chủ lễ đọc thầm lời cầu nguyện dưới đây nếu người đã khuất là nam:

 

OLLO HUMMA IGFIR LI-HAY-YI NA WA MAY-YI-TINA WA SOGIR RI-NA WA KABIR-RINA.

(Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho chúng tôi, những người còn sống cũng như người đã chết, từ trẻ thơ cho đến người già yếu).

 

الَلَّهُمَّ اغْفِرْ لِحَيِّنَا وَمَيِّتِنَا, وَصَغِيْرِنَا وَ كَبِيْرِنَا

WA ZAKAR-RINA WA UNTHA-NA WA SHAHID ĐUNA WA GO'IB-BUNA.

(Và từ đàn ông cho đến đàn bà, từ người có mặt cho đến người vắng mặt)

 

وَذَكَرِنَا وَ أُنْثَنَا, وَشَاهِدْنَا وَ غَائِبْنَا

OLLO HUMMA MAN AH-YAI TAHU MIN-NA FA-AH-YAI-HI A'LAL ISLAM.

(Lạy Allah, Ngài đã tạo ra họ cũng như chúng tôi, xin Ngài hãy ban cho họ sự sống trong Islam.)

 

الَلَّهُمَّ مَن أَحْيَيْتَه ُمِنَّا فَأَحْيَهِ عَلى الِإسْلاَمِ,

WA MAN TA WAF FAI TAHU MIN-NA FA TAWAF FAHU ‘ALAL IMAM

(Và ai trong chúng tôi mà Ngài bắt hồn thì chết đi trong đức tin)

 

وَمَن تَوَفَّيْتَهُ مِنَّا فَتَوَفَّهُ عَلى الِإيْمَان

OLLOH HUMMA LAA TAH-RIM-NA AJ ROHU WA LA TUĐILLU-NA BA'ĐAHU.

(Lạy Allah! Xin Ngài đừng tước đi phước lộc mà Ngài đã dành cho chúng tôi, xin đừng cho chúng tôi bị quyến rũ sau khi được ân sủng Ngài ban cho)

الَلَّهُمَّ لاَ تَحْرِمْنَا أَجْرَهُ, وَلَا تَضِلَنَا بَعْدَهُ

 

 

 

 

 

 

Nếu người quá vãng thuộc nữ giới thì đổi đại danh từ HU, HI thành HA trong lời cầu nguyện trên. Và nếu còn nhỏ chưa trưởng thành và là nam giới thì đọc lời cầu nguyện dưới đây:

 

 

 

OLLOHUMMAJ-‘ALHU LANA FAROTO

(Lạy Allah! Xin làm nó thành tiên phong cho chúng tôi)

 

اللهمَ اجْعَلْه لنا فَرَطًا

WAJ-‘ALHU LANA AJRAN WA ZUKHRA

(Và làm nó thành một phần thưởng và kho tàng cho chúng tôi)

 

و اجْعَلْه لنا  أجْرًا و ذُخْرًاً

WAJ-‘ALHU LANA SHAAFI-‘AN WA MUSHAFFA-‘AA

(Và làm nó thành người can thiệp cho chúng tôi và chấp nhận sự can thiệp)

 

و اجْعَلْه لنا شَافَعًا ومُشَفَعًا

 

 

 

Nếu người quá vãng thuộc nữ giới thì đổi đại danh từ HU thành HA trong lời cầu nguyện trên.

 

 

 

5.4.       Lần Takbir thứ tư

Khi đọc dứt lời cầu nguyện, vị chủ lễ (Imaam) đưa tay lên ngang tai nói “Ollohu Akbar” (Allah Vĩ Đại) lần thứ tư. Sau đó, hạ tay xuống rồi quay mặt sang bên phải nói lời chào bình an “Assalamu ‘Alaykum wa Rohmatulloh”, xong quay mặt sang bên trái nói tương tự.

Sau khi vị chủ lễ quay bên tay trái nói “Assalamu ‘Alaykum wa Rohmatulloh” thì kết thúc lễ an táng.

Nên nhớ, khi hành lễ tập thể, mọi người phải răm rắp làm theo vị chủ lễ và không được bỏ sót điều nào.

 

 

 

 

 

 

Ngôi Thánh Đường mái vòm mạ vàng ở Malaysia

 

 

---------- o0o ----------

 

 

Phụ lục

 

1.       Cầu nguyện (Đu’a)

Sau khi hoàn tất các nghi thức hành lễ bắt buộc hay Sunnah, người dâng lễ có thể cầu xin Thượng Đế bằng ngôn ngữ riêng theo tiếng mẹ đẻ của mình, ca ngợi, đa tạ Ngài và cầu xin Ngài tha thứ tội lỗi cho mình, cho cha mẹ, anh em, bà con, Muslim nam và nữ…

 

 

بسم الله الرحمن الرحيم ، الحمد لله رب العالمين، و الصلاة والسلام على محمد و على آله و أصحابه أجمعين.

 

BISMILAHIRROHMANIRROHIM, ALHAMDULILLAH-ROBBIL 'ALAMIN, WASSOLATU-WASSALAMU 'ALA MUHAMMAĐIN WA 'ALA ALIHI WA OS-HABIHI AJMAIN.

 

Nhân danh Allah, Đấng Rất mực Độ Lượng, Đấng Rất mực Khoan Dung, mọi ca ngợi dâng lên Allah, Chủ Tể của vũ trụ và muôn loài, và cầu xin bình an cho Thiên Sứ Muhammađ, gia tộc của Người, và tất cả các bạn hữu của Người

 

اللهم إني أعوذ بك من عذاب القبر،ومن عذاب جهنم،ومن فتنة المحيا والممات ،ومن شر فتنة المسيح الدجال

"

OLLOHUMMA INNI A-U-ZUBIKA MIN AZABIL QUBUR, WA MIN AZABIN JAHANNAM, MI FITNAHTUN HAYA' WAL MAMATU, WA MIN SHIRIN FITNAHTIL MASIHIL DAJAL

 

Ôi Allah, bề tôi xin được che chở khỏi bị trừng phạt trong ngôi mộ, lửa của Hoả ngục, xáo trộn của cuộc sống và cái chết,  và từ cái tàn ác của Dajal


" ، اللهم إني أعوذ بك من المأثم والمغرم

 "

OLLOHUMMA INI A-U-ZUBIKA MIN MA'SIMI WA MAGHRIMI


Ôi Allah, bề tôi xin được che chở khỏi bị tội lỗi và nợ nần.


" اللهم إني ظلمت نفسي ظلماً كثيراً ، ولا يغفر الذنوب إلا أنت ، فاغفر لي مغفرة من عندك وارحمني إنك أنت الغفور الرحيم

"

OLLOHUMMA INI ZOLAMTU NAFSI ZOLMAN KASIRO, WA LA YAGHFIRRUL ZUNUBA ILLA ANTA, FAGHFIR LI MAGHFIRAHTUN MIN INDAKA WARHAMNI INNAKA ANTAL GHOFURU-ROHIM


Ôi Allah, bề tôi đã tự tạo rất nhiều cái xấu xa cho bản thân, không ai có thể tha thứ tội lỗi ngoại trừ Ngài (Allah), xin hãy tha thứ cho bề tôi từ sự độ lượng của Ngài (Allah), xin hãy thương yêu bề tôi, quả thật Ngài (Allah) là Đấng Hằng Tha Thứ, Đấng Bao Dung


"اللهم اغفر لي ما قدمت وما أخرت وما أسررت وما أعملت وما أسرفت وما أنت أعلم به مني أنت المقدم وأنت المؤخر لا إله إلا أنت "

OLLOHUM-MUGHFIRLI MA QODDAMTU WA MA AKH-KHARTU WA MA ASROTU WAMA 'ALAMTU WA MA ASROFTU WA MA ANTA 'ALAMBIHI NINI, ANTAL-MUQODAMA WA ANTAL-MUAKH-KHIRO, LA ILA HA ILLA ANTA


Ôi Allah, xin hãy tha thứ cho những gì bề tôi đã làm, những gì bề tôi đã chậm trễ, những gì bề tôi đã quên, những gì bề tôi đã thực hiện, và những gì bề tôi đã phạm phải và những gì mà Ngài biết, Ngài là Đấng Có Trước, Ngài là Đấng Có Sau, không có thần linh nào ngoài Ngài (Allah).


" اللهم أعني على ذكرك ، وشكرك وحسن عبادتك "

 

OLLOHUMA INI 'ALA ZIKRIKA, WA SHUKRIKA WA HUSNUN IBADIKA

 

Ôi Allah, xin hãy giúp bề tôi tưởng nhớ Ngài, cảm tạ Ngài, và thực hành đức tin cho Ngài

 

" اللهم إني أعوذ بك من ابخل وأعوذ بك من الجبن ، وأعوذ بك من أن أرد إلى أرذل العمر ، وأعوذ بك من فتنة الدنيا وأعوذ بك من عذاب القبر " .

OLLOHHUMA INI A-U-ZUBIKA MI-NABKHILU WA A-U-ZUBIKA MI-NAL JUNUN, WA A-U-ZUBIKA MIN AN ARADDA ILA ARZALIL-UMRI, WA A-U-ZUBIKA MIN FITNAHTUL-DUNYA, WA A-U-ZUBIKA MIN 'AZABIL-QUBR

 

Ôi Allah, bề tôi xin được Ngài che chở khỏi tính ích kỷ, bề tôi xin được Ngài che chở khỏi tính hèn nhát, bề tôi xin được Ngài che chở để tìm câu trả lời cho đến cuối đời, che chở khỏi sự xáo trộn nơi trần thế và sự trừng phạt trong ngôi mộ.

 

" اللهم إني أسألك الجنة وأعوذ بك من النار "

 

OLLOHUMMA INI AS-ALUKAL-JANNAH, WA A-U-ZUBIKA MINAL-NAR

 

Ôi Allah, bề tôi luôn cầu xin Thiên Đàng của Ngài, bề tôi mong Ngài che chở khỏi lửa (Địa Ngục)

 

رَبَّـنَاعَـلَيْكَ تَوَكــَّلْـنَاوَإِلَيْكَ أَنَبْنَاوَإِلَيْكَ الْمَصِيْرُ

 

ROBANA ALAYKA TA WAKKALNA WA ILAYKA ANABNA WA ILAYKAL-MASHIR

 

Lạy Chủ Tể của bề tôi!  chỉ có Ngài bề tôi phó thác và chỉ có Ngài bề tôi quay về sám hối và chỉ có Ngài bề tôi sẽ gặp lại (trong ngày Phán Xử).

 

اَللَّهُمَّ أَنْتَ السَّلاَمُ  وَمِنْكَ السَّلاَمُ  فَحَـيِّناَ رَبَّنَا بِالسَّلاَمِ

 

OLLOHUMMA ANTAS-SALAM, WA MIN KAS-SALAM, FAHAYYINA ROBBANA BIS-SALAM

 

Ôi Allah, Ngài là Ðấng Thái bình, và là Ðấng Ban sự Bình An. Vậy xin Ngài hãy ban cho bề tôi cuộc  sống an lành, bởi Ngài là Ðấng Chủ Nhân của sự An Lành

 

اَللَّهُـمَّ إِنِّـي أَسْأَلُكَ عِـلْمًا نَافِعًا وَرِزْقًا وَاسِعًا وَشفِاءً مِن كُلِّ دَاء

 

OLLOHUMMA INNI ASALUKA 'ILMAN NAFIAN WA RIZQON WASI'AN MIN KULLU DA-I

 

Ôi Allah, cầu xin Ngài ban cho bề tôi được kiến thức cao quý, dồi-dào bổng lộc và tránh  khỏi các bệnh tật

 

اَللَّهُمَّ لَكَ صَلاَتِيْ وَنُسُكِيْ وَمَحْيَايَ وَمَمَاتِيْ وَإِلَيْكَ مَآبِيْ وَلَكَ رَبِّيْ تُرَاثِيْ

 

OLLOHUMMA LAKA SHOLATI WA NUSUKI WA MAHYAYA WA MA MA TI WA ILAYKA MABII WA LAKA ROBBI WA TUROOSI

 

“Ôi Allah, lễ nguyện của bề tôi chỉ dành cho riêng Ngài, dâng hiến này của bề tôi, sự sống của bề tôi, cái chết này của bề tôi và nơi Ngài bề tôi sẽ quay trở về và chỉ một mình Ngài là Chủ Tể mà bề tôi nhận thừa kế.

 

اَللَّهُمَّ إِنِّيْ أَعُوذُبِكَ مِنْ عَذّابِ الْـقَبْرِ وَوَسْوَسَةِ الصَّدْرِ وَشَتَاتِ الأَمْرِ"

 

OLLOHUMMA INNI A-U-ZUBIKA MIN AZABIL-QUBRI, WA WASWASATINSH- SHODRI, WA SHATATIL-AMRI

 

Ôi Allah, xin Ngài ban cho bề tôi tránh khỏi sự trừng phạt ở ngôi mộ, tránh khỏi (Sa-tăng) khêu gợi và cũng đừng bị quấy rầy trong hành động

 

اَللَّهُمَّ اهْدِنَا وَزَيِّنَا بِالتََّـقْوَى  وَ اغْفِرْلَنَا فِى الآخِرَةِ وَالأَولَى،  اَللَّهُمَّ إِنِّى أَسْأَلُكَ  رِزْقاً حَلاَلاً طَيِّباً مُبَارَكاً

 

OLLOHUMM-MAHDINA WA ZAYYINA BIT-TOQWA, WAGHFIRLANA FIL-AKHIROHTI WAL-ULA, OLLOHUMMA INNI ASALUKA RISQOL HALALAN TOYYIBAN MUBARAKA

 

Ôi Allah, xin Ngài hướng dẫn cho bề tôi với lòng sáng suốt, sợ hãi và xin Ngài chấp nhận tha thứ cho bề tôi ở cõi Ðời Sau và cõi đời này. Ôi Allah, cầu xin Ngài cho bề tôi bổng lộc một cách trong sạch và ân phước tốt đẹp

 

اللَّهُمَّ إِنَّا نَسْأَلُكَ الْهُدَى وَالتُّقَى وَالعَفَافَ وَالغِنَى.

 

OLLOHUMMA INNA NASALUKAL-HUDA, WATTAQO, WAL-'AFAFA,WAL-GHINA

 

Thưa Allah, cầu xin Ngài ban cho sự Hướng dẫn, lòng sùng Đạo, sự tha thứ và sự giàu có

 

اللَّهُمَّ إِنَّا نَسْأَلُكَ أَنْ تَرْزُقَ كُلاًّ مِنَّا لِسَانًا صَادِقًا ذَاكِرًا، وَقَلْبًا خَاشِعًا مُنِيْبًا، وَعَمَلاً صَالِحًا زَاكِيًا، وَعِلْمًا نَافِعًا رَافِعًا، وَإِيْمَانًا رَاسِخًا ثَابِتًا، وَيَقِيْنًا صَادِقًا خَالِصًا، وَرِزْقًا حَلاَلاًَ طَيِّبًا وَاسِعًا.

 

OLLOHUMMA INNA NASALUKA AN TARZUQO KULLA MINNA LISANAN SHODIQON ZAKIRO, WA QOLBAN KHOSHI'AN MUNIIBA, WA AMALA SHOLIHAN KHOLISHO,  WA RISQO HALALAN TOYYIBAN WASI'A.

 

Ôi Allah, xin hãy ban cho bề tôi phước lộc toàn vẹn, làm cho lưỡi bề tôi nói thật trong Sự Thật, làm cho trái tim bề tôi biết khiêm tốn, chính trực, làm cho công việc của bề tôi là công việc thiện, ban cho bề tôi kiến thức hữu dụng, ban cho bề tôi một đức tin vững chắc, ban cho bề tôi sự tin tưởng tuyệt đối, ban cho bề tôi nhiều bổng lộc tốt

 

اللَّهُمَّ أَعِزَّ الإِسْلاَمَ وَالْمُسْلِمِيْنَ، وَوَحِّدِ اللَّهُمَّ صُفُوْفَهُمْ، وَأَجْمِعْ كَلِمَتَهُمْ عَلَى الحَقِّ، وَاكْسِرْ شَوْكَةَ الظَّالِمِينَ، وَاكْتُبِ السَّلاَمَ وَالأَمْنَ لِعِبادِكَ أَجْمَعِينَ.

 

OLLOHUMMA A'AZAL-ISLAMA WAL-MUSLIMIN, WA WAHHIDIL-LAHUMMA SHUFUFUHUM, WAJMI' KALIMATUHUM 'ALAL-HOQ, WAKSIR SHAU-KATUZ-ZOLIMIN, WAKTUBIS-SALAMA WAL-AMNA LI 'IBADIKA AJMA'IN

 

Ôi Allah, xin hãy thương yêu Islam và những người Muslim, hỡi Allah xin làm cho họ thành một hàng ngũ, xin làm cho lời lẽ của họ hướng về Chân lý, xin hãy phá tan các tổ chức của kẻ ác, xin hãy ban sự bình an, bảo hộ cho tất cả nô lệ của Ngài.

 

اللَّهُمَّ أَنْزِلْ عَلَيْنَا مِنْ بَرَكَاتِ السَّمَاء وَأَخْرِجْ لَنَا مِنْ خَيْرَاتِ الأَرْضِ، وَبَارِكْ لَنَا في ثِمَارِنَا وَزُرُوْعِنَا وكُلِّ أَرزَاقِنَا

 

OLLOHUMMA ANZAL 'ALAYNA MIN BARAKATIS-SAMA'I WA UKHRIJ LANA MIN KHOYROTIL-ARDHI, WA BARIK LANA FI SIMARINA WA ZURU'INA WA KULLI ARZAQINA

 

Ôi Allah, xin Ngài ban cho bề tôi hồng ân từ trên trời, và từ trái đất, xin Ngài ban cho phước lành từ hoa quả, ngôi vườn và tất cả bổng lộc của bề tôi.

 

رَبَّنَا آتِنَا في الدُّنْيَا حَسَنَةً وَفي الآخِرَةِ حَسَنَةً وَقِنَا عَذَابَ النَّارِ.

 

ROBBANA ATINA FID-DUNYA HASANAH, WA FIL-AKHIROTI HASANAH WA QINA 'AZABAN-NAR

 

Lậy Đấng Chúa Tể của bề tôi, xin Ngài ban cho bề tôi những điều tốt đẹp ở đời này và đời sau và cứu vớt bề tôi khỏi hình phạt của Hoả Ngục.

 

رَبَّنَا لا تُزِغْ قُلُوْبَنَا بَعْدَ إِذْ هَدَيْتَنَا، وَهَبْ لَنَا مِنْ لَدُنْكَ رَحْمَةً، إِنَّكَ أَنْتَ الوَهَّابُ.

 

ROBBANA LA TUZI' QULUBANA BA'DA IZ HADAYTANA, WAHAB LANA MIN LADUNKA ROHMAH, INNAKA ANTAL-WAHHAB

 

Lạy Chúa Tể của bề tôi, xin đừng làm cho tấm lòng của chúng con nghiêng ngã hay lạc hướng sau khi đã dìu dắt chúng con và xin ban cho chúng con Hồng Ân của Ngài, bởi thật, Ngài là Đấng Hằng Ban Bố.

 

رَبَّنَا ظَلَمْنَا أَنْفُسَنَا وَإِنْ لَمْ تَغْفِرْ لَنَا وَتَرْحَمْنَا لَنَكُوْنَنَّ مِنَ الخَاسِرِيْنَ.

 

ROBBANA ZOLAMNA AMFUSANA WA IN LAM TAGHFIR LANA WA TARHAMNA LI NAKUNNA MINAL KHOSIRIN

 

Lạy Chúa Tể của bề tôi, bề tôi tự tạo nên điều tội lỗi cho bản thân, nếu không tha thứ cho bề tôi thì chắc chắn bề tôi sẽ là người thua thiệt.

 

اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِلْمُؤْمِنِيْنَ وَالْمُؤْمِنَاتِ، َالْمُسْلِمِيْنَ وَالْمُسْلِمَاتِ، الأَحْيَاءِ مِنْهُمْ وَالأَمْوَاتِ، إِنَّكَ سَمِيْعٌ قَرِيْبٌ مُجِيْبُ الدُّعَاءِ

 

OLLOHUM-MAGHFIR LIL MU'MININ WAL MU'MINAT, AL- MUSLIMIN WAL-MUSLIMAS, AL-AHYAI MINHUM WAL-AMWAT, INNAKA SAMI'AN MUJIBUD-DU'AI

 

Ôi Allah, xin hãy tha thứ cho tất cả những người có đức tin, nam và nữ, cho Muslim nam và nữ, cho cuộc sống và cho cái chết của họ. Quả thật, Ngài là Đấng Hẳng Nghe, Đấng luôn luôn kề cận và đáp ứng mọi lời cầu xin.

 

و صلى اللهم على سيدنا محمد النبي الأمي و على آله و صحبه و سلم

 

 WA SHOLLO-HUMMA 'ALA SAYYIDINA MUHAMMAĐIN-NABIYIL- UMMI WA 'ALA ALIHI WA SHOHBIHI WA SALIM.

 

Ôi Allah, xin Ngài ban bình an cho Nabi Muhammađ, gia đình và các bạn hữu của Người được nhiều hồng ân. Amin!

 

 

 

2.       Khi tiểu tiện và đại tiện

2.1.      Những điều nên và không nên làm khi vào phòng vệ sinh:

a.     Trước khi đi tiểu và đại tiện nên nhớ đọc thầm lời cầu nguyện sau đây:

 

بسم الله ، اللهم إنّي أَعُوذُ بِكَ مِنَ الخُبْثِ و الخَبائِث

 

 

Bismillah(i); Ollohumma innii a’uudhu bika minal khubthi wal khabaaith

 

(Nhân danh Allah! Lạy Allah! Bề tôi xin Ngài che chở khỏi những vật dơ bẩn và xấu xa của ma quỷ. (Hađith – Bukhari)

b.     Cấm không được mang vào nhà vệ sinh bất cứ vật gì có ghi tên Allah như Thiên Kinh Qur’an hoặc sách vở có tên Allah hoặc dây chuyền, vòng vàng, tranh ảnh có mang tên Allah.

c.     Nên im lặng khi đang ở trong nhà vệ sinh. Nói chuyện, đọc ra tiếng, trả lời câu hỏi, hoặc chào hỏi người khác là những điều không nên làm khi đang ở trong nhà vệ sinh ngoại trừ trường hợp khẩn cấp có hại đến tính mạng như hướng dẫn một người mù. Nếu bị hắt hơi thì chỉ nên tưởng tượng trong đầu lời Alhamdu lillaah (Mọi lời tạ ơn kính dâng lên Thượng Đế). Ibn ‘Umar tường thuật trong một Hađith rằng Thiên Sứ không trả lời ai khi Người đang tiểu tiện.

d.     Khi đi tiểu tiện hay đại tiện ở ngoài đồng, không nên ngồi hướng hay quay lưng về Qiblah tức hướng của đền Ka’bah.

e.     Người đi tiểu hay đại tiện nên ngồi ở chỗ khuất. Cửa nhà cầu phải cài chốt an toàn.

f.      Tránh đi tiểu vào chỗ dưới bóng cây hoặc cây ăn trái, trên bờ sông hay cạnh hồ nước, tại những nơi mà người ta có thể thực hiện việc thanh tẩy (Wuđu), trong nghĩa địa hoặc trong thánh đường. Nói chung, tránh tiểu tiện hay đại tiện tại những nơi mà dân chúng nghỉ ngơi và tụ tập vì bất cứ lý do gì.

g.     Sau khi tiểu tiện và đại tiện nên dùng nước để tẩy uế. Nếu không có nước thì dùng giấy. Điều này bắt buộc trước khi thực hiện việc thanh tẩy. Sau khi làm xong thủ tục tẩy sạch, nên đọc lời cầu nguyện sau đây:

 

الحمد لله الذي أذهب عني الأذى و عافاني

 

Alhamdulillahi-lladhii adh haba ‘annil azaa wa ‘aafaanii.

 

(Mọi ca ngợi dâng lên Thượng Đế, Đấng làm cho bề tôi hết đau và làm cho bề tôi khỏe trở lại).

 

3.       Phương pháp tẩy sạch (Istinja)

 

Istinja là hình thức tẩy sạch các chất bẩn ra khỏi thân thể sau khi tiểu tiện và đại tiện.

 

3.1.      Phương pháp tẩy sạch khi tiểu tiện

a.     Vì Thiên Sứ  quen ngồi để tiểu tiện cho nên nhiều học giả thông hiểu giáo lý cho rằng không nên đứng để tiểu tiện, trừ khi ở nơi tiểu tiện nếu ngồi xuống nước tiểu có thể bắn vào áo quần.

b.     Sau khi tiểu tiện, dùng giấy vệ sinh thấm sạch hết giọt nước tiểu cuối cùng nơi đầu dương vật hay âm hộ, rồi dùng nước rửa sạch bộ phận đó (3-7 lần).

c.     Chỉ dùng bàn tay trái để rửa sạch bộ phận sinh dục.

d.     Khi đi tiểu tiện, ống quần nên được xắn lên để tránh nước tiểu bắn vào, và nên cẩn thận để nước tiểu không bắn vào bất cứ bộ phận nào của cơ thể.

e.     Sau khi rửa sạch, nên dùng xà phòng và nước rửa sạch tay trước khi sờ mó vật gì.

 

3.2.      Phương pháp tẩy sạch khi đại tiện

a.     Sau khi đại tiện, nên dùng giấy vệ sinh chùi sạch hậu môn rồi dùng nước rửa sạch bộ phận đó với bàn tay trái.

b.     Nên dùng một cái bình chứa nước lớn có đủ nước để rửa sạch, đặc biệt ở nơi không có đầy đủ tiện nghi. Một cái chai, cái lon hay cái hũ chứa không đủ nước để tẩy sạch thì không hợp lệ.

c.     Sau khi rửa sạch nên dùng xà phòng và nước rửa hai bàn tay cho sạch trước khi thực hiện việc thanh tẩy (Wuđu).

 

4.     Sunna về những việc nên làm tự nhiên của con người

 

Thượng Đế, Đấng Tối Cao đã phán cho các Thiên Sứ những việc làm mà Ngài bắt chúng ta thi hành nhằm mang lợi cho chúng ta về phương diện vệ sinh và tô điểm nhân phẩm con người trong cung cách cư xử. Các việc làm này gồm có:

 

4.1.      Cắt quy đầu dương vật của nam giới (Al–Khitaan)

 

Abu Hurairah tường thuật lời của Thiên Sứ  như sau: “Thiên S Ibrahim, người bề tôi thương yêu của Thượng Đế đã cắt quy đầu dương vật của Người khi Người được tám mươi (80) tuổi tại Qaduum ở xứ Shaam (thuộc Syrie) với một dụng cụ thợ mộc” (Hađith – Bukhari)

 

Mặc dù thời gian cắt quy đầu dương vật của nam giới không được ấn định rõ, nó được khuyên nên thực hiện vào ngày đặt tên cho đứa bé, tức bảy ngày sau khi sinh.

 

4.2.      Tỉa lông

a.     Cạo lông hạ bộ: cắt hoặc tỉa lông hạ bộ của nam và nữ giới.

b.     Nhổ lông nách: nhổ, cắt hoặc tỉa lông dưới nách.

c.     Cắt móng tay, móng chân và tỉa ria mép trên.

Abu Hurairah  tường thuật lời của Thiên Sứ  như sau: “Năm việc nên làm về hành vi tự nhiên của con người: cắt bao quy đầu; cắt móng tay, móng chân; cạo lông; tỉa ria mép trên; nhổ lông nách.” (Hađith – Muslim)

 

Những việc làm này nếu thực hiện được mỗi tuần một lần thì rất tốt nhưng không nên để quá bốn mươi (40) ngày.

 

4.3.      Nhiều Hađith khuyến khích nuôi và để râu.

 

Hađith do Ibn ‘Umar  tường thuật như sau: “Hãy làm ngược với những người thờ tượng thần, hãy tỉa ria trên và nuôi râu cằm dưới”. (Hađith – Bukhari / Muslim)

 

4.4.      Chăm sóc tóc bằng các sản phẩm dưỡng tóc để có vẻ đẹp tự nhiên.

 

Thiên Sứ  bảo: “Ai có tóc nên chăm sóc nó” (Hađith – Abu Đawud).  Tuy nhiên, Thiên Sứ  cấm cắt tóc một bên và chừa lại một bên. Thiên Sứ bảo: “Cắt hết hoặc chừa lại hết”. (Hađith – Muslim)

 

4.5.      Để tóc bạc hoặc râu bạc

 

Thiên Sứ  nói rằng nó là ánh sáng cho người Muslim. Tuy nhiên, có thể nhuộm tóc để làm đẹp nó.

 

4.6.      Khuyến khích dùng nước hoa vì nó cho ta một cảm giác dễ chịu.

Thiên Sứ  thích xạ hương hơn các loại nước hoa khác.

 

5.       Phủ phục đặc biệt (Sujuuđ-ut-Tilaawah)

 

Trong Thiên Kinh Qu’ran có 15 câu kinh mà người đọc kinh cũng như người dâng lễ phải phủ phục khi đọc đến câu kinh đó. Đó là các câu kinh sau:

 

§  Chương 7, câu 206; 

§  Chương 13, câu 15;

§  Chương 16, câu 49;

§  Chương 17, câu 107;

§  Chương 19, câu 58;

§  Chương 22, câu 18;

§  Chương 22, câu 77;

§  Chương 25, câu 60;

§  Chương 27, câu 25;

§  Chương 32, câu 15;

§  Chương 38, câu 24;

§  Chương 41, câu 37;

§  Chương 53, câu 62;

§  Chương 84, câu 21;

§  Chương 96, câu 19.

 

Phủ phục đặc biệt chỉ gồm có một (1) lần phủ phục (Sujuuđ). Sau đó người đọc tiếp tục như trước.

 

 

 

---------- o0o ----------

 

 

6.       Những chương kinh Qur’an ngắn để hành lễ

 

(Chương 114: An-nas)

سورة الناس

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

قُلْ أَعُوْذُ بِرَبِّ النَّاسِ (1)

kul a-u-zu birobb-bin nas-si (1)

Hãy bảo (họ): Tôi cầu xin Đấng Chủ Tể của nhân loại.

مَلِكِ النَّاس (2)

ma’likin-nas-si (2)

"Đức Vua của nhân loại,

اِلَهِ النَّاس (3)

i-la-hin-nas-si (3)

Thượng Ðế của nhân loại

مِنْ شَرَّ الْوَسْواسِ الْخَنَّاسِ (4)

min sharril was-wa’sil khon nas-si (4)

"(Che chở) tránh khỏi sự hãm hại của kẻ thì thào (lời xúi giục, bùa phép) rồi lẩn mất.

الَّذِي يُوَسوسُ فِيْ صُدُرِ النَّاسِ (5)

al lazy yu-was wi su fi su đu-rin-nas-si (5)

Kẻ đã thì thào (những điều tác hại) vào lòng người,

مِنَ الْجِنَّةِ و النَّاسِ (6)

minal jinn-naty wan nas-si (6)

"Thuộc loài ma quỷ và loài người."

 

 

---------- ***** ----------

 

 

(Chương 113: Al-Falaq)

سورة الفلق

 

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

قُلْ أَعُوْذُ بِرِبَّ الفَلَقِ (1)

kul-a-u-zu bi-robbil falak (1)

Hãy bảo (họ): "Tôi cầu xin Đấng Chủ Tể của buổi rạng đông che chở

,مِنْ شَرِّ مَا خَلَقْ (2)

min sharry-ma-kholak (2)

Tránh khỏi sự tác hại của những vật mà Ngài đã tạo

وَمِنْ شَرِّ غَا سِقٍ إِذَا وَقَبْ (3)

wa mim sharri gósiquin-I-za wakobba (3)

Và khỏi tác hại cuả màn đêm khi nó bao phủ.

وَمِنْ شَرِّ النَّفَّثَاتِ فِى العُقَدِّ (4)

wa-min sharrin-naffa-sa-ti fil ukođ (4)

Và khỏi sự tác hại cuả những kẻ thổi (phù) phép vào những chiếc nút thắt.

وَمِنْ شَرِّ حَاسِدٍ إِذَا حَسَدَ (5)

wa-min sharri hásiđin I-za-hasađ (5)

Và khỏi sự hãm hại của những kẻ đố kỵ khi họ ganh tị.

 

 

---------- ***** ----------

 

 

 

(Chương 112: Al-Ikhlas)

سورة الإخلاص

 

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

قُلْ هُوَ اللَّهُ اَحَدٌ (1)

Qul hu wallóhu áhađ (1)

Hãy bảo (họ): “Ngài, Allah, là Một (Duy Nhất).

الَّلهُ الصَّمَدُ (2)

Alloh-hus somađ (2)

Allah là Đấng Tự Hữu, Độc Lập mà tất cả phải nhờ vả.

لَمْ يَلِدْ وَلَمْ يُوْلَدْ (3)

Lam yaliđ walam yu-lađ (3)

Ngài không sinh (đẻ) ai, cũng không do ai sinh ra.

وَلَمْ يَكُنْ لَهُ كُفُوًا اَحَدٌ (4)

Wa lam yakulla-hu-kufywan a-hađ (4)

Và không một ai (cái gì) có thể so sánh với Ngài đặng.

 

 

---------- ***** ----------

 

 

 

 (Chương 111: Al-Masad)

سورة المسد

 

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

 

تَبَّتْ يَدَا أَبِي لَهَبٍ وَتَبَّ   (1)

Tab-bat yadaa abiy Lahabiw-watab

Hai tay của Abu Lahab bị hủy diệt và y bị hủy diệt!

 

مَا أَغْنَى عَنْهُ مَالُهُ وَمَا كَسَبَ   (2)

Ma 'aghna a'nhu malahu wa ma kasab

Của cải và tất cả những gì mà y tậu tác sẽ chẳng giúp y được gì

 

سَيَصْلَى نَاراً ذَاتَ لَهَبٍ   (3)

Sayashla naaran zaata Lahab

Y sẽ bị đốt trong lửa ngùn ngụt cháy!

 

وَامْرَأَتُهُ حَمَّالَةَ الحَطَبِ   (4)

Wamroatuhu hammaalatul hatab

Và vợ của y, người đã từng vác củi khô (cũng sẽ bị như thế)

 

فِي جِيدِهَا حَبْلٌ مِّن مَّسَدٍ   (5)

Fiy jiidihaa hanlun-min-masad

Cổ của bà ta sẽ bị thắt bởi một sởi dây thốt nốt.

 

 

---------- ***** ----------

 

 

 

 (Chương 110: An-Nosr )

سورة النصر

 

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

إِذَا جَاءَ نَصْرُ اللَّه وَ الفَتْحُ (1)

I-za-jáa nas-rul lohi wal fat'hu (1)

Khi sự giúp đỡ của Allah đến và sự thắng lợi (khi chinh phục Makkah),

 

وَرَاَيْتَ النَّاسَ يَدْخُلُوْنَ فِي دِيْنِ اللَّهِ افْوَجًا (2)

wa ro-ai-tan nas-sa yađ-khu-lu-na-fi-đi-nilla-hi-af-wa-ja (2)

Và Ngươi thấy nhân loại gia nhập tôn giáo của Allah (Islam) từng đoàn.

 

فَسَبَّحْ بِحَمْدِ رَبِّكِ وَاسْتَغْفِرهُ اِنَّهُ كَانَ تَوَّابٌا (3)

fa-sabbih bihamđi robbika was tagfirhu innahu ka-na tawwa-ba (3)

Bởi thế, hãy tán dương lời ca tụng Chủ Tể của Ngươi và cầu xin Ngài tha thứ. Quả thật, Ngài hằng quay lại tha thứ.

 

 

---------- ***** ----------

 

 

 (Chương 109: Al-Kafirun)

سورة الكافرون

 

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

 

قُلْ يآيُّهَا الْكَافِرُوْنَ (1)

Qul-ya ay yuhal káfirun (1)

Hãy bảo (chúng): "Này hỡi những kẻ phủ nhận Allah!

لآ اَعْبُدُ مَا تَعْبُدُوْنَ (2)

la a-ábuđu ma ta'-buđun (2)

''Ta không tôn thờ những kẻ (thần linh) mà các ngươi tôn thờ,

وَلآ أنْتُمْ عَابِدُوْنَ مَآ اَعْبُدُ (3)

wa la antum ábiđu-na ma a-ábuđ (3)

''Các ngươi cũng sẽ không tôn thờ Ðấng (Allah) mà Ta thờ phụng

وَلاَ أَنَا عَابِدٌ مَا عَبَدْتُمْ (4)

wa la a-na a' biđun-ma a-abađtum (4).

''Và Ta sẽ không là một tín đồ của kẻ mà các ngươi đang tôn thờ;

وَلآ أَنْتُمْ عَابِدُوْنَ مآ اَعْبُدُ (5)

wa la an-tum a'biđun-na ma ábuđ (5)

Và các ngươi cũng sẽ không tôn thờ Allah mà Ta đang thờ phụng.

لَكُمْ دِيْنُكم وَلِىَ دِيْنِ (6)

la-kum đinukum waly-ya đinn (6)

''Đin (tôn giáo, con đường sống) của các ngươi thuộc về các ngươi. Đin của Ta thuộc về Ta''

 

 

---------- ***** ----------

 

 

 

 (Chương 108: Al-Kauthar)

سورة الكوثر

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

 

إِنَّا أَعْطَيْنَاكَ الكَوْثَرَ   (1)

In-na 'a taynaa-kal-kauthar

Quả thật, Ta đã ban cho Ngươi  (Muhammađ) Al-Kauthar (một con sông nơi Thiên Đàng)

 

فَصَلِّ لِرَبِّكَ وَانْحَرْ   (2)

Fasholi lirobbika wanhar

Bởi thế, hãy dâng lễ 'Salah' và tế lễ (dâng lên Allah thôi)

 

إِنَّ شَانِئَكَ هُوَ الأَبْتَرُ   (3)

In-na sha-ni-aka huwal abtar

Quả thật, kẻ xúc phạm Ngươi mới thực sự cắt đứt (mọi hy vọng)

 

 

---------- ***** ----------

 

 

 

 (Chương 107: Al-Ma’un)

سورة الماعون

 

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

 

أَرَأَيْتَ الَّذِي يُكَذِّبُ بِالدِّينِ   (1)

Aro-aytal-laziy yukazzibu biddin

Há Ngươi có thấy kẻ phủ nhận việc phán xử (để thưởng và phạt)?

 

فَذَلِكَ الَّذِي يَدُعُّ اليَتِيمَ   (2)

Fazalikal-laziy yadu'-u'l yatiim

Bởi lẽ kẻ ấy đã xua đuổi trẻ mồ côi

 

وَلاَ يَحُضُّ عَلَى طَعَامِ المِسْكِينِ   (3)

Wa la yahuzdu a'la toa'amil-miskin

Và không khuyến khích việc nuôi ăn người thiếu thốn

 

فَوَيْلٌ لِّلْمُصَلِّينَ   (4)

Fawaylul-lilmushollin

Bởi thế, thiệt thân cho những người dâng lễ 'Salah'

 

الَّذِينَ هُمْ عَن صَلاتِهِمْ سَاهُونَ   (5)

Al-laziina hum a'n sholaatihim saahun

Những ai lơ là trong việc hành lễ của họ

 

الَّذِينَ هُمْ يُرَاءُونَ   (6)

Al-laziina hum yuro-'un

Những ai chỉ muốn phô trương cho (người khác) thấy,

 

وَيَمْنَعُونَ المَاعُونَ   (7)

Wa yamnau'-nalmau'n

Và từ chối giúp đỡ (láng giềng) về những vật dụng cần thiết.

 

 

---------- ***** ----------

 

 

 

 (Chương 106: Quraysh)

سورة قريش

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

 

لإِيلاَفِ قُرَيْشٍ   (1)

Li-ilafi quraysh

Nhằm bảo vệ bộ tộc Quraysh

 

إِيِلاَفِهِمْ رِحْلَةَ الشِّتَاءِ وَالصَّيْفِ   (2)

I-lafihim rihlatash-shita-i wash-shiyf

Bảo vệ họ đi buôn xa (về phía Nam) vào mùa đông và (về phía Bắc) vào mùa hạ,

 

فَلْيَعْبُدُوا رَبَّ هَذَا البَيْتِ   (3)

Falya'buduu robba hazal-bayt

Bởi vậy, họ phải thờ phụng Đấng Chủ Tể của ngôi đền (Ka'bah) này (tại Makkah).

 

الَّذِي أَطْعَمَهُم مِّن جُوعٍ وَآمَنَهُم مِّنْ خَوْفٍ   (4)

Al-lazi ata'mahum-min juu' wa aa manahum-min khauf

Đấng đã nuôi họ khỏi đói và cho họ an toàn khỏi sợ.

 

 

---------- ***** ----------

 

 

 

 (Chương 105: Al-Fil)

سورة الفيل

بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ

 

أَلَمْ تَرَ كَيْفَ فَعَلَ رَبُّكَ بِأَصْحَابِ الفِيلِ   (1)

Alam taro kayfa faa'la robbuka bi-oshhaabil-fiil

Há Ngươi không thấy Đấng Chủ Tể của Ngươi đã đối phó với đoàn quân cưỡi voi (của Abrahah Al-Ashram định tiêu diệt Ka'bah) như thế nào ư?

 

أَلَمْ يَجْعَلْ كَيْدَهُمْ فِي تَضْلِيلٍ   (2)

Alam yaja'l kaydahum fi tazdliil

Há Ngài đã không phá hỏng kế hoạch của bọn chúng hay sao?

 

وَأَرْسَلَ عَلَيْهِمْ طَيْراً أَبَابِيلَ   (3)

Wa arsala a'layhim toyron abaa-bill

Và phái chim bay từng đàn đến tiêu diệt chúng?

 

تَرْمِيهِم بِحِجَارَةٍ مِّن سِجِّيلٍ   (4)

Tarmiihim bihijaarotin-min sij-jiil

Đánh chúng bằng đá sijil (đất sét nung)

 

فَجَعَلَهُمْ كَعَصْفٍ مَّأْكُولٍ   (5)

Fajaa'lahum kaa'shfin-m'akuul

Bởi thế, làm cho chúng chết như cọng rạ khô (sau mùa gặt).

 

 

---------- ***** ----------

 
 
New Page 1
 Copyright © 2019 TuSachIslam.com. All rights reserved. Designed by Sea-Lion 1G0M